Hệ thống chính sách dân tộc đã tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất vùng có đông người dân tộc thiểu số, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bàoTừ tích hợp chính sách đến thay đổi cách phân bổ nguồn lực
Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 (Gọi tắt là Chương trình MTQG 417), đặt ra những mục tiêu có tính liên kết cao: tăng thu nhập bình quân người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt một nửa mức bình quân chung cả nước; giảm tỷ lệ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Chương trình đồng thời xác định đối tượng thụ hưởng gồm xã, thôn, người dân, hộ gia đình, cộng đồng, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và những địa bàn khó khăn.
Như vậy, chính sách mới không chỉ đặt câu hỏi hỗ trợ bao nhiêu?, mà phải trả lời ba câu hỏi quan trọng hơn, như: hỗ trợ ai, hỗ trợ ở đâu và hỗ trợ để tạo ra năng lực gì?
Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ: Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 đã tạo khuôn khổ để phân bổ nguồn lực theo các tiêu chí, đối tượng và mức độ ưu tiên thay vì chia đều cơ học giữa các địa bàn. Văn bản đồng thời quy định tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương. Điều đó có ý nghĩa rất rõ đối với nơi khó khăn hơn, thiếu hụt lớn hơn và có nhu cầu cấp thiết hơn phải được quan tâm tương xứng; nhưng nguồn lực cũng phải được tổ chức theo khả năng tạo ra kết quả phát triển.
Kinh tế - xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những chuyển biến tích cực, góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung của vùng vùng cũng như của cả nướcĐúng người: từ xác định đối tượng đến nhận diện nguyên nhân nghèo
Đúng người trước hết là bảo đảm nguồn lực đến đúng nhóm đối tượng mà chính sách hướng tới. Nhưng nếu chỉ xác định người nghèo theo danh sách hành chính thì chưa đủ.
Nghèo có nhiều nguyên nhân. Có hộ thiếu đất sản xuất; có hộ thiếu vốn; có hộ thiếu kỹ năng; có hộ thiếu việc làm; có hộ sống ở nơi hạ tầng yếu; có hộ mới thoát nghèo nhưng khả năng chống chịu còn thấp. Mỗi nguyên nhân đòi hỏi một phương thức hỗ trợ khác nhau.
Vì vậy, quản trị Chương trình MTQG 417 chuyển từ xác định ai được hỗ trợ sang xác định người đó cần gì để thoát nghèo bền vững. Đây là bước chuyển quan trọng từ hỗ trợ theo đối tượng sang hỗ trợ theo nhu cầu, như: (1) Một hộ cần vốn nhưng không có phương án sản xuất khả thi thì vốn chưa chắc tạo ra thu nhập. (2) Một lao động được đào tạo nhưng không có thị trường việc làm phù hợp thì đào tạo chưa tạo ra sinh kế. (3) Một hộ được hỗ trợ giống nhưng thiếu nước, kỹ thuật và đầu ra thì mô hình sản xuất khó bền vững… Do đó, đúng người phải gắn với đúng nguyên nhân và đúng năng lực cần hình thành.
Đúng nơi: đầu tư vào điểm nghẽn, không chia đều nguồn lực
Nếu đúng người là điều kiện của chính sách xã hội, thì “đúng nơi” là điều kiện của hiệu quả đầu tư. Một địa bàn nghèo không nhất thiết chỉ thiếu tiền. Điểm nghẽn có thể nằm ở giao thông, nước sản xuất, điện, đất đai, nhân lực, tổ chức sản xuất, thị trường hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản.
Vì vậy, không thể áp dụng một mô hình đầu tư giống nhau cho mọi xã, mọi thôn. Nơi có vùng nguyên liệu nhưng giao thông yếu cần ưu tiên kết nối hạ tầng. Nơi có sản phẩm nhưng sản xuất manh mún cần củng cố hợp tác xã và liên kết doanh nghiệp. Nơi có lao động nhưng thiếu việc làm cần đào tạo gắn với thị trường. Nơi có nguy cơ tái nghèo cao cần ưu tiên năng lực chống chịu, sinh kế đa dạng và tích lũy tài sản sản xuất.
Đây chính là lý do nguyên tắc phân bổ vốn phải gắn với mức độ khó khăn, khoảng cách phát triển và yêu cầu ưu tiên của từng địa bàn, thay vì bình quân hóa nguồn lực theo tinh thần của Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Đúng nhu cầu: từ hỗ trợ thiếu hụt sang tạo năng lực
Nếu chỉ giải quyết thiếu hụt trước mắt, một hộ có thể thoát nghèo trong một thời điểm nhưng vẫn có nguy cơ tái nghèo khi gặp thiên tai, dịch bệnh, mất việc hoặc biến động thị trường. Vì vậy, hỗ trợ phải tạo ra năng lực tạo thu nhập và chống chịu.
Theo đó, đầu tư một con đường không chỉ để đi lại, mà phải mở được không gian sản xuất và thị trường, như: (1) Một công trình thủy lợi không chỉ cung cấp nước, mà phải giúp ổn định sản xuất. (2) Một khoản vốn không chỉ tạo ra tài sản ban đầu, mà phải giúp hộ gia đình hình thành sinh kế có khả năng sinh lời. (3) Đào tạo nghề không chỉ tạo chứng chỉ, mà phải tạo khả năng có việc làm hoặc tự tạo việc làm.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, có thể khái quát cơ chế này thành chuỗi, như: “hỗ trợ đúng, hình thành năng lực, tạo thu nhập, tích lũy, tái đầu tư, tăng khả năng chống chịu, giảm tái nghèo”. Đây mới là thước đo quan trọng nhất của giảm nghèo bền vững.
Phát triển dược liệu vùng đồng bào dân tộc thiểu số góp phần tạo sinh kế cho các hộNhìn từ Chương trình MTQG 1719, nguồn lực chỉ có ý nghĩa khi tạo ra thay đổi
Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 cung cấp những bằng chứng quan trọng cho cách tiếp cận này. Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 đã trở thành điểm tựa, nơi gửi gắm kỳ vọng của gần 14,2 triệu đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước. Chương trình MTQG 1719 tạo dấu ấn mạnh mẽ, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của những địa bàn vốn được coi là trọng yếu cả về an ninh, quốc phòng và văn hóa, xã hội.
Sau 5 năm triển khai, Chương trình MTQG 1719 đã hỗ trợ xây dựng 42.567 căn nhà ở cho hộ dân, vượt 230% kế hoạch và hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm hơn 5 năm. Cùng với đó, hàng chục nghìn hộ đồng bào được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất; hơn 54.000 hộ được chuyển đổi nghề; 403 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị đã được triển khai, với sự tham gia của 817 doanh nghiệp, hợp tác xã. Những mô hình kinh tế cộng đồng này vừa giúp đồng bào thay đổi tư duy sản xuất, vừa tạo ra sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường…
Điển hình như tại tỉnh Điện Biên, từ nguồn lực đầu tư các chương trình MTQG, nhất là Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 được triển khai hiệu quả, đời sống đồng bào các dân tộc được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2025 còn 17,66%, giảm bình quân 3,97%/năm. Thu nhập bình quân đầu người đạt 54 triệu đồng/năm. Đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên hiện chỉ còn 27,39%, giảm 17,56% so với năm 2021.
Những kết quả đó rút ra một bài học quan trọng là nguồn lực Nhà nước có thể tạo ra thay đổi lớn khi được tập trung vào những nhu cầu thiết yếu của người dân.
Nhưng bài học của giai đoạn trước (2021-2025) cũng đặt ra yêu cầu cho giai đoạn 2026-2030, đó là không dừng ở việc giải quyết thiếu hụt, mà đặc biệt phải nâng cao khả năng tự phát triển của người dân sau hỗ trợ.
Bởi vậy, Chương trình MTQG 417 (giai đoạn 2026-2030) cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của sinh kế, khả năng hoạt động thực chất của hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp, thị trường đầu ra, đào tạo kỹ năng và khả năng tích lũy của hộ gia đình.
Tích hợp để giải quyết một vấn đề bằng nhiều nguồn lực
Có thể nói, ý nghĩa của việc tích hợp ba lĩnh vực trong Chương trình 417 nằm chính ở đây. Việc tích hợp không phải là cộng cơ học ba danh mục vốn. Đó là dùng nhiều chính sách và nhiều nguồn lực để giải quyết đồng thời một vấn đề phát triển cụ thể, như: (i) Một hộ nghèo có thể cần nhà ở, sinh kế, đào tạo nghề và tín dụng. (ii) Một vùng sản xuất cần đường giao thông, thủy lợi, tổ chức sản xuất, chế biến và thị trường. (iii) Một xã khó khăn cần đồng thời hạ tầng, dịch vụ xã hội và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở.
Khi những nhu cầu liên quan được giải quyết trong cùng một phương án phát triển, nguồn lực sẽ tạo ra hiệu ứng cộng hưởng thay vì phân tán. Đây cũng là hướng phát triển tiếp tục được nâng lên trong Nghị quyết số 46/2026/QH16, ngày 24/08/2026 cuả Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, hợp nhất bốn chương trình MTQG thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Nghị quyết đặt mục tiêu phát triển nông thôn hiện đại, giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế nông thôn xanh, tuần hoàn, sinh thái và thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, nhóm dân cư.
Phát triển cây thuốc theo chuỗi gia trị sẽ ra những sản phẩm chất lượng, phục vụ việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng vừa tạo sinh kế, cải thiện kinh tế hộ gia đìnhTừ đúng trong phân bổ đến đúng trong kết quả
Nếu “đúng người, đúng nơi, đúng nhu cầu” chỉ được thực hiện ở khâu lập danh sách và phân bổ vốn thì vẫn chưa đủ. Chính sách còn phải đúng trong tổ chức thực hiện và đúng trong kết quả cuối cùng.
Điều đó đòi hỏi cấp cơ sở phải có năng lực xác định nhu cầu, lựa chọn thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện; người dân phải được tham gia từ xác định vấn đề đến giám sát, sử dụng và duy trì kết quả; cơ quan quản lý phải đánh giá chương trình bằng tác động thực tế thay vì chỉ bằng tỷ lệ giải ngân. Và một dự án hoàn thành không đồng nghĩa với mục tiêu phát triển đã đạt. Câu hỏi cuối cùng phải là: thu nhập có tăng không, việc làm có bền vững không, năng lực sản xuất có được nâng lên không, người dân có giảm phụ thuộc vào hỗ trợ không và nguy cơ tái nghèo có giảm không?
Đó chính là bước chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị kết quả. Theo đó, “đúng người, đúng nơi, đúng nhu cầu” không chỉ là một nguyên tắc phân bổ ngân sách. Đồng thời còn là một triết lý tổ chức chính sách: nguồn lực phải xuất phát từ nhu cầu thực tế; đầu tư phải nhằm tháo gỡ điểm nghẽn; hỗ trợ phải tạo ra năng lực; và kết quả cuối cùng phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống của người dân.
Vì vậy, Chương trình MTQG 417 cần được nhìn như một quá trình chuyển hóa nguồn lực công thành năng lực phát triển. Đúng người để không bỏ sót; đúng nơi để không dàn trải; đúng nhu cầu để không hỗ trợ hình thức; đúng cách để người dân có thể tự đứng vững sau hỗ trợ. Khi chính sách không chỉ đến được với người dân, đặc biệt còn giúp người dân có thêm năng lực tạo thu nhập, tích lũy và chống chịu, nguồn lực của Nhà nước mới thực sự trở thành động lực phát triển bền vững từ cơ sở…/.