Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu phân tích toàn diện và chuyên sâu hệ thống khung pháp lý hiện hành của Việt Nam quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những quyền con người cơ bản được Hiến định và liên tục được thể chế hóa sâu sắc. Bài viết làm rõ tiến trình hoàn thiện thể chế từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và bước ngoặt thể chế với sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16); đồng thời, khẳng định hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay không chỉ tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà còn bảo đảm sự tương thích giữa khung pháp lý và thực tiễn sinh hoạt tôn giáo phong phú của Nhân dân.
Bàn về quyền tự do tôn giáo

Bàn về quyền tự do tôn giáo

Không gian học thuật | PGS. TS. Đỗ Lan Hiền* - 11:32, 30/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân và đồng hành cùng dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một chủ trương nhất quán. Việc nghiên cứu thấu đáo cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Bài viết đi sâu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới góc độ pháp luật quốc gia và quốc tế; từ đó đề xuất một số định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo.
Tại sao xuất gia phải cạo đầu?

Tại sao xuất gia phải cạo đầu?

Không gian học thuật | Minh Châu - 18:28, 19/10/2026
Nếu mái tóc trong cuộc sống đời thường là “góc con người”, phản chiếu vẻ đẹp, cá tính và bản ngã của mỗi cá nhân, thì bước qua ngưỡng cửa thiền môn, đây lại là thứ đầu tiên phải từ bỏ. Nghi thức thế phát (cạo đầu) trong lễ xuất gia của Phật giáo không đơn thuần là sự thay đổi về diện mạo hay một thủ tục mang tính nghi thức, mà là dấu mốc tinh thần triệt để, thời khắc người tu sĩ chính thức trút bỏ gánh nặng nhân duyên, cắt đứt phiền não để bước vào hành trình tìm kiếm sự tự do nội tại.
10 điều cần biết về Cơ đốc Phục lâm

10 điều cần biết về Cơ đốc Phục lâm

Không gian học thuật | Nguyễn Lê Vân Chi - 18:28, 19/10/2026
Không chỉ được biết đến qua việc tuân giữ ngày nghỉ Sabát vào thứ Bảy hay niềm tin sâu sắc vào sự tái lâm của Chúa Jesus, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm còn thu hút sự chú ý quốc tế nhờ hệ thống y tế, giáo dục phát triển toàn cầu cùng bí quyết sống khỏe trường thọ. Tại Việt Nam, trải qua hơn một thế kỷ gắn bó, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm luôn đồng hành cùng dân tộc theo phương châm “Sống theo lời Chúa, phụng sự Tổ quốc và phục vụ Dân tộc”.
Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ - Vai trò, thực trạng và định hướng phát triển trong thời kỳ công nghệ số

Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ - Vai trò, thực trạng và định hướng phát triển trong thời kỳ công nghệ số

Không gian học thuật | Sơn Phước Hoan * - 17:08, 15/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Phật giáo Nam tông Khmer là thành tố hữu cơ của đời sống cộng đồng Khmer Nam Bộ. Chùa Khmer không chỉ là cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo mà còn là không gian truyền dạy đạo đức, tiếng nói, chữ viết, lễ tục, nghệ thuật và ký ức cộng đồng. Bài viết phân tích vai trò của hệ phái; một số vấn đề đặt ra về đào tạo tăng tài, phối hợp tổ chức, quản trị chùa, điều hành lễ hội và tiếp nhận công nghệ số. Trên cơ sở pháp luật hiện hành và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2027), bài viết đề xuất mô hình phát triển “bản sắc - chuẩn mực - tri thức - số hóa - liên kết”. Trọng tâm của mô hình là chuẩn hóa năng lực nhưng không đồng nhất hóa truyền thống tu học; tăng cường quản trị minh bạch, đối thoại; xây dựng quy tắc ứng xử số; quy hoạch không gian chùa và tháp lưu cốt; phát triển dữ liệu số có sự tham gia và quyền quyết định phù hợp của cộng đồng chủ thể.
Tìm hiểu về quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Tìm hiểu về quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Không gian học thuật | Hoàng Thu - 21:04, 12/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Quyền chính trị là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền chính trị không chỉ thể hiện nguyên tắc bình đẳng dân tộc mà còn là điều kiện quan trọng để đồng bào tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và quyết định các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của mình. Bài viết góp phần tham gia tìm hiểu cơ sở lý luận và pháp lý về quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa vùng dân tộc thiểu số trên nền tảng số

Xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa vùng dân tộc thiểu số trên nền tảng số

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng - 15:05, 11/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay, xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên nền tảng số đang trở thành xu hướng tất yếu, cần thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua mạng xã hội, nền tảng truyền thông số, dữ liệu số và công nghệ đa phương tiện, nhiều giá trị văn hóa truyền thống, như: lễ hội, nghệ thuật dân gian, ẩm thực, nghề thủ công và tri thức địa phương đã được quảng bá rộng rãi đến cộng đồng trong nước và quốc tế. Bài viết tập trung phân tích vai trò của nền tảng số trong xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời đánh giá tình hình, cơ hội và thách thức của quá trình chuyển đổi số du lịch hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp phát triển thương hiệu du lịch văn hóa số gắn với bảo tồn bản sắc dân tộc và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số, miền núi.
Tìm hiểu quan niệm của Khổng giáo về con người ở Hàn Quốc

Tìm hiểu quan niệm của Khổng giáo về con người ở Hàn Quốc

Không gian học thuật | ThS. Hoàng Thị Thu* - 14:34, 11/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết đi sâu phân tích quan niệm về con người của Khổng giáo (Nho giáo) trong bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội Hàn Quốc. Thông qua việc khảo sát sự tiếp biến tư tưởng từ thời kỳ Cao Ly đến triều đại Triều Tiên, đặc biệt là những tranh luận triết học đỉnh cao như Tứ đoan Thất tình luận giữa Lý Thoái Khê (Yi Hwang) và Kỳ Cao Phong (Ki Dae-seung), bài viết làm rõ cấu trúc nhân sinh quan Khổng giáo ở Hàn Quốc. Con người ở đây không tồn tại như một bản ngã cô lập mà là một thực thể đạo đức mang tính quan hệ, liên tục tự hoàn thiện thông qua tu dưỡng tâm tính và thực hành lễ trị. Cuối cùng, nghiên cứu đánh giá sự chuyển biến, những giá trị cốt lõi và cả những hệ lụy của thế giới quan này trong xã hội Hàn Quốc hiện đại.
Kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc

Kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng* ThS. Võ Thị Thảo Nguyên* - 09:52, 09/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chương trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế xanh gắn với chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc. Với lợi thế về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, nông nghiệp đặc sản, năng lượng tái tạo và bản sắc văn hóa dân tộc, Tây Bắc có nhiều tiềm năng để hình thành mô hình tăng trưởng xanh dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ số. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số; đánh giá những cơ hội, thách thức và các yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi mô hình phát triển ở khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự kết hợp giữa kinh tế xanh và chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, phát triển sinh kế bền vững, gia tăng giá trị sản phẩm địa phương và thu hẹp khoảng cách phát triển. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển xanh và chuyển đổi số toàn diện ở vùng miền núi Tây Bắc.
Tác động của các giá trị tôn giáo đối với đời sống xã hội vùng Nam Bộ

Tác động của các giá trị tôn giáo đối với đời sống xã hội vùng Nam Bộ

Không gian học thuật | TS. Nguyễn Châu Giang - 09:47, 09/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Vùng đất Nam Bộ là một không gian văn hóa - địa chính trị đặc thù, nơi chứng kiến sự hội tụ, giao thoa và tiếp biến sâu sắc của nhiều dòng chảy tín ngưỡng, tôn giáo trong lịch sử và phát triển. Các giá trị tôn giáo không chỉ đóng vai trò là điểm tựa tinh thần giúp cư dân vượt qua thử thách thiên nhiên khắc nghiệt và biến động lịch sử, mà còn hình thành nên hệ giá trị nhân văn, tính cách hào sảng, trọng nghĩa khinh tài của con người Nam Bộ. Bài viết phân tích ảnh hưởng, tác động của các giá trị tôn giáo đối với đời sống xã hội Nam Bộ trên các phương diện: củng cố liên kết cộng đồng, chuẩn mực đạo đức và hành vi, cùng các đóng góp kinh tế - an sinh xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa - đạo đức tôn giáo phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững của vùng Nam Bộ.
Bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay

Bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay

Không gian học thuật | TS. Lò Giàng Páo* ThS. Nguyễn Duy Dũng** - 09:29, 08/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận giữa nghiên cứu văn hóa, di sản, chuyển đổi số và phát triển cộng đồng, nghiên cứu làm rõ vai trò của số hóa trong tư liệu hóa, lưu trữ, trao truyền, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa. Kết quả cho thấy, chuyển đổi số mở rộng không gian bảo tồn, nhưng còn hạn chế về dữ liệu, hạ tầng, nhân lực, quyền văn hóa và năng lực số của cộng đồng. Từ đó, tác giả đề xuất xây dựng hệ sinh thái văn hóa số lấy cộng đồng làm chủ thể, bảo đảm bảo tồn, trao truyền, sáng tạo, phát huy bền vững…
Tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cở sở

Tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cở sở

Không gian học thuật | Thượng tá, ThS. Hoàng Đức Thành - 09:28, 08/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, tiếp cận từ góc độ vốn xã hội và quản trị cộng đồng. Kết quả cho thấy, Người có uy tín có khả năng tạo dựng niềm tin, phát hiện sớm mâu thuẫn, kết nối các bên, vận dụng tri thức văn hóa và hỗ trợ phổ biến pháp luật, qua đó nâng cao khả năng hòa giải tự nguyện tại cộng đồng. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa Người có uy tín, hòa giải viên và chính quyền cơ sở còn chưa đồng bộ; năng lực pháp luật và kỹ năng hòa giải chưa đồng đều. Vì vậy, tác giả đề xuất mô hình “uy tín xã hội, niềm tin, đối thoại, hòa giải, đồng thuận”, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và quản trị cộng đồng.
Chủ động phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn từ sớm, từ cơ sở

Chủ động phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn từ sớm, từ cơ sở

Không gian học thuật | Minh Châu - 09:28, 08/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh chóng, sự bùng nổ của không gian mạng và xu hướng tinh thần hóa đời sống hiện đại, Việt Nam đang đối mặt với sự xuất hiện ngày càng phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan và các hình thức tín ngưỡng lệch chuẩn. Bài viết phân tích về bản chất, đặc điểm của các hiện tượng tôn giáo mới này và tín ngưỡng lệch chuẩn tại Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất và làm rõ giải pháp chủ động phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn từ sớm, từ cơ sở trong mô hình quản lý 2 cấp (cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp cơ sở).
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW

Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW

Không gian học thuật | Trần Quốc Hùng - 07:51, 08/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết góp phần nhận diện và bước đầu phân tích việc vận dụng tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong công tác dân tộc. Trên cơ sở khảo sát tại các tỉnh Quảng Ninh, Điện Biên, Đắk Lắk và thành phố Huế, bài viết nhận diện kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra. Các địa phương đã bước đầu ứng dụng nền tảng số trong tuyên truyền, quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển sản xuất và thương mại điện tử; song còn điểm nghẽn về hạ tầng, nhân lực, nguồn lực tài chính, dữ liệu phân tán, nền tảng dùng chung và năng lực đổi mới sáng tạo. Bài viết đề xuất lấy dữ liệu làm nền tảng, khoa học và công nghệ làm công cụ, đổi mới sáng tạo làm động lực và chuyển đổi số làm phương thức tổ chức lại hoạt động công tác dân tộc; trọng tâm là dữ liệu thống nhất, nền tảng số dùng chung, AI có kiểm soát, nhân lực số, an toàn mạng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với sinh kế, văn hóa và phát triển bền vững.
Giá trị nhân văn của nghi thức Tu trước lửa trong tang lễ của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Giá trị nhân văn của nghi thức Tu trước lửa trong tang lễ của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long

Không gian học thuật | PV - 07:50, 08/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Buốs Múk Plơng (Tu trước lửa) là một thực hành nghi lễ đặc thù mang đậm triết lý Phật giáo Nam tông kết hợp với tín ngưỡng dân gian trong văn hóa tang lễ của cộng đồng người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết phân tích chi tiết diễn trình nghi lễ qua hai giai đoạn, giải mã hệ thống biểu tượng, qua đó làm rõ các giá trị nhân văn cốt lõi: tinh thần báo hiếu sâu sắc thông qua việc gọt rửa tội lỗi và hồi hướng phước báu cho người quá cố; việc tạo động lực, cảnh tỉnh tâm thức và định hướng chính nghiệp cho người đang sống; cùng khả năng xoa dịu nỗi đau thương, tái thiết trạng thái cân bằng tâm lý và củng cố tính gắn kết cộng đồng phum sóc.
Tri thức tộc người trong phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Tri thức tộc người trong phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Không gian học thuật | Phương Thảo - 10:37, 07/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Tri thức tộc người là hệ thống hiểu biết được hình thành và truyền nối qua nhiều thế hệ, bao gồm tri thức về tự nhiên, sản xuất, y dược, kiến trúc, tổ chức xã hội và đời sống tinh thần. Khai thác và phát huy tri thức tộc người trong phát triển du lịch được xem là hướng đi quan trọng nhằm tạo sinh kế bền vững, bảo tồn văn hóa dân tộc. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp nhằm khai thác tri thức tộc người trong phát triển du lịch bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số

Giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số

Không gian học thuật | ThS. Trịnh Văn Khương - 10:27, 07/10/2026
(DTTS) - Tóm tắt: Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, tiếp cận và làm chủ công nghệ là điều kiện quan trọng để người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội học tập, việc làm và tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn gặp nhiều rào cản về hạ tầng số, thiết bị, kỹ năng, chi phí và khả năng tiếp cận các dịch vụ số. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW về hành động 100 ngày đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn, thu hẹp khoảng cách số. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đồng thời đề xuất một số giải pháp giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số.
Tạo việc làm, kết nối lao động bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 - Một số vấn đề đặt ra

Tạo việc làm, kết nối lao động bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 - Một số vấn đề đặt ra

Không gian học thuật | ThS. Hoàng Lệ Nhật* - Phương Thảo - 10:26, 07/10/2026
(DTTS) - Tóm tắt: Tạo việc làm, phát triển dịch vụ và kết nối thị trường lao động là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giai đoạn 2026-2035, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh, già hóa dân số, di cư lao động đã, đang và sẽ làm thay đổi sâu sắc cấu trúc việc làm và yêu cầu kỹ năng đối với người lao động. Bài viết phân tích những hạn chế chủ yếu trong tạo việc làm tại chỗ, phát triển dịch vụ, kết nối lao động; nhận diện những cơ hội mới từ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, kinh tế số, kinh tế xanh và các ngành dịch vụ. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tạo việc làm, phát triển hệ sinh thái dịch vụ và tăng cường kết nối cung - cầu lao động ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn

Biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng - 10:24, 07/10/2026
(DTTS) - Tóm tắt: Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là nguồn vốn đặc thù, có khả năng tạo giá trị kinh tế, việc làm và sinh kế cộng đồng nếu được bảo tồn và khai thác phù hợp. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và cơ chế biến di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn, tập trung vào du lịch cộng đồng, làng nghề, sản phẩm văn hóa, OCOP và tri thức địa phương. Trên cơ sở tiếp cận sinh kế bền vững, vốn văn hóa và phát triển dựa vào cộng đồng, nghiên cứu chỉ ra yêu cầu chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với sáng tạo, thị trường và phân phối lợi ích công bằng. Qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, nâng cao giá trị di sản và tạo sinh kế bền vững.
Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo: Cơ hội và những vấn đề đặt ra

Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo: Cơ hội và những vấn đề đặt ra

Không gian học thuật | Hoàng Thị Thanh - 17:53, 03/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích tác động của tiến trình chuyển đổi số đối với công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tại Việt Nam làm rõ bức tranh chuyển dịch từ mô hình quản trị truyền thống sang mô hình quản trị số thích ứng. Sự phát triển của không gian mạng, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng truyền thông mới đã tái cấu trúc phương thức sinh hoạt tâm linh của tín đồ, đồng thời tạo cơ hội hiện đại hóa bộ máy hành chính công. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra những thách thức về an ninh tôn giáo trên không gian mạng, hiện tượng tôn giáo ảo, rủi ro xâm phạm dữ liệu cá nhân của tín đồ và nguy cơ gia tăng khoảng cách số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết đề xuất giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm sự cân bằng hài hòa giữa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong kỷ nguyên số.
Nghị định số 307/NĐ-CP: Bước tiến mới về chính sách cho Người có uy tín

Nghị định số 307/NĐ-CP: Bước tiến mới về chính sách cho Người có uy tín

Không gian học thuật | Hoàng Thu - 17:35, 03/10/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Ngày 4/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 307/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số chính sách đối với tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. So với các Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 và Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg ngày 23/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ thì Nghị định số 307/ NĐ-CP có nhiều điều chỉnh quan trọng về tiêu chí, quy trình lựa chọn, thẩm quyền công nhận, chế độ chính sách đối với Người có uy tín. Bài viết đi sâu phân tích những thay đổi này để thấy rõ bước tiến mới về chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tới.