Một góc Lạng SơnCó thể nói, giảm nghèo là một quá trình thay đổi năng lực phát triển của con người và cộng đồng. Một khoản hỗ trợ có thể giúp một gia đình vượt qua thời điểm khó khăn; nhưng một sinh kế phù hợp, một con đường thuận lợi, một nguồn vốn đúng lúc, một nghề có thị trường hoặc một chuỗi sản xuất ổn định mới có thể tạo ra thu nhập lâu dài.
Đây cũng là hướng tiếp cận đang được tỉnh Lạng Sơn đặt trọng tâm trong giai đoạn mới. Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 xác định hỗ trợ các xã, thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo và ưu tiên lồng ghép nguồn lực cho địa bàn khó khăn, biên giới.
Toàn tỉnh Lạng Sơn có 1.646 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và 385 thôn đặc biệt khó khăn; có 65 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó gồm 14 xã khu vực I, 13 xã khu vực II và 38 xã khu vực IIIGiảm nghèo không chỉ nhìn những chỉ tiêu trước mắt
Những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo, từ đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ nhà ở, tín dụng chính sách đến phát triển sản xuất và bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản.
Điều quan trọng là các chính sách ngày càng được đặt trong mối quan hệ với sinh kế. Đường giao thông đến thôn bản không chỉ phục vụ đi lại, đồng thời còn mở đường cho nông sản đến thị trường. Công trình thủy lợi giúp phát triển sản xuất. Điện, trường học, y tế, nước sạch tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống, phát triển nguồn nhân lực. Khi những “điểm nghẽn” về hạ tầng được tháo gỡ, khả năng phát triển kinh tế của hộ gia đình cũng được mở rộng.
Công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được đặc biệt quan tâm, thực hiện đồng bộ, kịp thời, mang lại cuộc sống ấm no cho nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo. Trong ảnh: Hỗ trợ người dân làm nhàTrong giảm nghèo, đây là sự chuyển đổi quan trọng: từ hỗ trợ để khắc phục thiếu hụt trước mắt sang đầu tư để nâng cao năng lực tự chủ. Bởi vậy, hàng trăm mô hình phát triển sản xuất ở các địa bàn khác nhau cần được nhìn không chỉ ở số hộ được hỗ trợ, mà ở khả năng hình thành một phương thức sản xuất có hiệu quả. Cây ăn quả, chăn nuôi, kinh tế lâm nghiệp, sản phẩm OCOP hay các mô hình kinh tế hộ chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với kỹ thuật, vốn, thị trường và khả năng liên kết. Hiện nay, tỉnh Lạng Sơn có 19 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, trong đó là các sản phẩm đặc trưng như quýt vàng Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, hồng Vành Khuyên, na Chi Lăng, hoa hồi, thạch đen…
Một hộ được cấp giống nhưng không có kỹ thuật sẽ khó duy trì mô hình. Có sản phẩm nhưng không có thị trường thì khó tạo thu nhập. Có vốn nhưng thiếu phương án sản xuất phù hợp lại có nguy cơ phát sinh rủi ro. Vì vậy, sinh kế phải được thiết kế như một chuỗi hoàn chỉnh.
Na dai, một sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng ở Lạng Sơn Đầu tư để nâng cao năng lực cộng đồng
Điểm cốt lõi của giảm nghèo bền vững là khơi dậy năng lực tự chủ của người dân, cộng đồng dân tộc thiểu số. Tín dụng chính sách có vai trò quan trọng ở đây. Vốn ưu đãi có thể trở thành đòn bẩy để hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đầu tư sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh hoặc chuyển đổi phương thức sinh kế. Nhưng vốn chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường.
Tương tự, đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu thực tế. Một khóa học chỉ có ý nghĩa khi người học có thể tìm được việc làm hoặc áp dụng kiến thức vào sản xuất. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đào tạo còn phải tính đến đặc điểm văn hóa, trình độ, điều kiện đi lại và nhu cầu sinh kế tại chỗ.
Đây là lý do mục tiêu giảm nghèo cần được đặt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu năm 2026 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 67%, đồng thời phấn đấu công nhận mới 20 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Những chỉ tiêu này nếu được kết nối với phát triển sản xuất và thị trường sẽ tạo thêm dư địa để người dân chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang các mô hình có giá trị gia tăng cao hơn.
Lạng Sơn sở hữu nguồn tài nguyên đất đai phong phú, đa dạng về thổ nhưỡng, khí hậu phân hóa theo độ cao, tạo điều kiện cho nhiều loại cây trồng phát triển, trong đó có loại cây đặc sản như hồi…Tạo sinh kế gắn với thị trường
Có thể thấy, một trong những thách thức lớn nhất của giảm nghèo ở miền núi là khoảng cách giữa sản xuất và thị trường. Tỉnh Lạng Sơn có lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, sản phẩm đặc sản, kinh tế cửa khẩu và du lịch. Nhưng lợi thế chỉ trở thành thu nhập khi sản phẩm đáp ứng được yêu cầu thị trường. Vì vậy, phát triển sinh kế trong giai đoạn mới cần gắn với tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu, thương mại điện tử và liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - hộ dân.
Đặc biệt, chuyển đổi số có thể mở thêm cơ hội cho những hộ sản xuất nhỏ. Một sản phẩm nông nghiệp địa phương nếu được chuẩn hóa, số hóa thông tin, xây dựng thương hiệu và tiếp cận đúng thị trường có thể vượt khỏi giới hạn của một phiên chợ vùng cao, miền núi.
Cùng với đó, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh và kinh tế tuần hoàn sẽ giúp giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên theo chiều rộng. Đây cũng là hướng phù hợp với mục tiêu dài hạn của tỉnh, đó là nâng thu nhập nhưng vẫn bảo vệ đất, rừng, nguồn nước và môi trường sống…
Giảm nghèo đa chiều, phát triển bao trùm
Sinh kế là nền tảng, nhưng giảm nghèo không thể chỉ nhìn bằng thu nhập. Một gia đình có thể thoát chuẩn nghèo nhưng vẫn dễ tái nghèo nếu thiếu nhà ở ổn định, nước sạch, chăm sóc y tế, giáo dục, thông tin hoặc việc làm bền vững. Vì vậy, các chính sách giảm nghèo phải tiếp tục được triển khai đồng bộ, nhất là ở địa bàn vùng cao, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Năm 2026, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đa chiều 2%; phấn đấu 5 xã gồm Bắc Sơn, Chi Lăng, Hữu Lũng, Lộc Bình và Đình Lập đạt chuẩn nông thôn mới. Tỉnh cũng đặt mục tiêu tỷ lệ đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt 82%, đường ô tô đến trung tâm thôn được cứng hóa đạt 92% và duy trì 100% xã, phường đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế.
Những mục tiêu này cho thấy, giảm nghèo đang được đặt trong một không gian phát triển rộng hơn, như: hạ tầng, sản xuất, việc làm, y tế, giáo dục và chất lượng môi trường cùng tạo thành nền tảng chống tái nghèo.
Ngày 22/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Theo đó, Chỉ thị có nêu: Thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (Chương trình); Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội, trong thời gian qua, các bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tập trung ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn để tổ chức thực hiện Chương trình.
Một điểm đặc biệt quan tâm là tỉnh Lạng Sơn đã chuyển sang đẩy nhanh tiến độ triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 với cách tiếp cận lồng ghép nguồn lực. Nghị quyết 14/2026/NQ-HĐND ngày 19/6/2026 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Lạng Sơn quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; trong đó giảm nghèo bền vững được đặt cùng phát triển nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Kế hoạch của tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu đến năm 2030 thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 3 lần năm 2020; thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số đạt ít nhất một nửa mức bình quân chung của cả nước. Đây là những mục tiêu cho thấy trọng tâm của chương trình không chỉ là “giảm số hộ nghèo”, mà là nâng cao năng lực tạo thu nhập và chất lượng phát triển của khu vực nông thôn, miền núi.
Để hiện thực hóa mục tiêu ấy, nguồn lực cần tiếp tục được tập trung vào nơi khó khăn nhất, nhưng phương thức hỗ trợ phải ngày càng sát nhu cầu hơn. Cùng một mức đầu tư, hiệu quả sẽ khác nhau nếu được thiết kế theo đặc điểm từng vùng, từng nhóm dân cư và từng chuỗi sinh kế.
Tỉnh Lạng Sơn cũng cần đặc biệt chú trọng nguy cơ tái nghèo do thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường và những cú sốc đối với sản xuất nông nghiệp. Các mô hình sinh kế cần có khả năng chống chịu, đa dạng hóa thu nhập và tạo thêm giá trị từ chính nguồn lực địa phương.
Theo đó, giảm nghèo bền vững không phải là đưa người dân đi qua một ngưỡng nghèo trên giấy tờ. Đặc biệt, mục tiêu sâu sắc, nhân văn, quan trọng, ý nghĩa hơn là giúp mỗi gia đình có một nền tảng đủ vững để tự đứng trên đôi chân của mình.
Khi một con đường mở ra thị trường, một mô hình sản xuất tạo được thu nhập, một người lao động có nghề, một hợp tác xã kết nối được doanh nghiệp và một hộ nghèo có thể tự chủ sinh kế, chính sách giảm nghèo đã chuyển hóa thành năng lực phát triển.
Vì vậy, đây cũng là con đường để tỉnh Lạng Sơn thực hiện giảm nghèo từ gốc, như: không chỉ hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn, mà tạo điều kiện để người dân có năng lực vượt qua khó khăn bằng chính sức lao động, tri thức và nguồn lực của mình; không chỉ giảm nghèo hôm nay, mà tạo nền tảng vững chắc để không tái nghèo ngày mai…/.