Tỉnh Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả nước hoàn thành việc phê duyệt danh sách sau sắp xếp thôn, bản, khu phố. Việc sớm hoàn thành phê duyệt danh sách, tạo cơ sở pháp lý để tỉnh triển khai đồng bộ các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn 2026-2030 (Ảnh: D.D)Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, gắn trực tiếp với tiến bộ xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các địa bàn biên giới, hải đảo. Trong quá trình đó, vốn ngân sách nhà nước không chỉ là nguồn tài chính để thực hiện chính sách, đồng thời còn giữ vai trò mở đường, tạo niềm tin và kích hoạt các nguồn lực xã hội. Thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh cho thấy, khi nguồn vốn công được bố trí chủ động, có trọng tâm và gắn với nhu cầu phát triển, hiệu quả đầu tư có thể vượt xa giá trị ngân sách trực tiếp bỏ ra.
Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (Chương trình MTQG 1719), Quảng Ninh đã chủ động mở rộng phạm vi thực hiện chương trình từ 54 xã theo phạm vi ban đầu lên 65 xã, thị trấn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Cách làm này thể hiện tư duy phát triển không bó hẹp trong ranh giới hành chính của chính sách, mà đặt trong yêu cầu thực tiễn về thu hẹp chênh lệch vùng miền, phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Định hướng đó được kết nối với Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 17/5/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các địa bàn đặc thù.
Tỉnh Quảng Ninh ưu tiên nguồn lực chăm lo vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Ảnh: D.D)Sau 05 năm triển khai Chương trình MTQG 1719, tỉnh Quảng Ninh hoàn thành và hoàn thành vượt 63/64 chỉ tiêu cụ thể Trung ương giao, cùng 25/29 chỉ tiêu do tỉnh xây dựng; bốn chỉ tiêu còn lại được đánh giá đang đi đúng lộ trình. Theo kết quả khảo sát của Cục Thống kê tỉnh Quang Ninh, đến hết năm 2024, thu nhập bình quân đầu người tại 67 xã, thị trấn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo đạt 83,79 triệu đồng/người/năm, tăng 40,09 triệu đồng so với năm 2020 và gấp 1,9 lần... Những kết quả này cho thấy chính sách đã góp phần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ khắc phục thiếu hụt sang tạo lập điều kiện phát triển; tuy nhiên, việc đánh giá tác động cần tính đến đóng góp đồng thời của nhiều chương trình và chính sách khác.
Trong xây dựng nông thôn mới, tỉnh Quảng Ninh hoàn thành chương trình ở cấp tỉnh năm 2024; huyện Bình Liêu trước đây trở thành địa bàn dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn huyện nông thôn mới, còn các huyên Đầm Hà và Tiên Yên cũ là những địa phương đi đầu trong xây dựng nông thôn mới nâng cao. Toàn tỉnh có 631/785 dự án hạ tầng động lực, thiết yếu hoàn thành; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của chương trình hằng năm đạt trên 99%. Tỷ lệ hộ nông thôn, miền núi sử dụng nước hợp vệ sinh ước đạt 99,99%, trong đó hộ dân tộc thiểu số đạt 100%. Đây là những kết quả cụ thể về hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản, tạo tiền đề để người dân mở rộng sản xuất, cải thiện điều kiện sống và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế địa phương.
Điểm đáng quan tâm nhất là cách tỉnh Quảng Ninh huy động nguồn lực. Tỉnh bố trí trực tiếp 4.200 tỷ đồng vốn đầu tư công ngân sách tỉnh cho Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025, đạt kế hoạch cả giai đoạn; bố trí trên 460 tỷ đồng vốn sự nghiệp và hơn 500 tỷ đồng vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay.
Tỉnh Quảng Ninh tập trung đầu tư, hỗ trợ lâu dài cho các địa bàn khó khăn, đồng thời đang chủ động xác định rõ những khu vực tiếp tục được thụ hưởng chính sách trong giai đoạn 2026-2030 (Ảnh: D.D)Thực tế tại Quảng Ninh cho thấy, vai trò vốn dẫn dắt đã được phát huy theo hướng ngân sách công tạo nền tảng để các nguồn vốn khác tham gia với quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn tỷ lệ huy động để kết luận hiệu quả. Tín dụng là nguồn vốn phải hoàn trả, nguồn lực xã hội hóa có thể tập trung ở những địa bàn thuận lợi hơn; vì vậy, hiệu quả thực chất còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận vốn của hộ nghèo, hiệu quả sản xuất, việc làm được tạo ra và mức độ công bằng trong phân bổ cơ hội. Bài học quan trọng là ngân sách cần ưu tiên những hạng mục thiết yếu, có tác động lan tỏa, đồng thời hỗ trợ người dân và hợp tác xã đủ năng lực sử dụng vốn để hình thành sinh kế lâu dài.
Kể từ ngày 1/7/2025, tỉnh Quảng Ninh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp 171 đơn vị hành chính cấp xã cũ thành 54 đơn vị gồm 22 xã, 30 phường và hai đặc khu. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mới về rà soát đối tượng thụ hưởng, kế thừa dữ liệu, xác định nhu cầu đầu tư và phân định trách nhiệm quản lý. Việc tỉnh Quảng Ninh ban hành danh sách 190 thôn, bản, khu phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 theo Quyết định số 2800/QĐ-UBND ngày 1/8/2026 phê duyệt danh sách 190 thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, sau khi Chính phủ ban hành quy định mới về phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cho thấy bước chủ động cập nhật chính sách theo địa giới mới. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để phân bổ nguồn lực sát thực tế hơn, tránh bỏ sót đối tượng hoặc đầu tư chồng chéo.
Tỉnh Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực, chăm lo toàn diện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, biên giới, hải đảo… (Ảnh: D.D)Bước sang giai đoạn 2026-2030, việc triển khai Chương trìnhmục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 đến năm 2030 (Chương trình MTQG 417), trên cơ sở chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vũng và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh tiếp tục đổi mới cách huy động và sử dụng vốn theo hướng gắn đầu tư hạ tầng với phát triển sản xuất, đào tạo nghề, chuyển đổi số, bảo tồn văn hóa và liên kết thị trường.
Do vậy, điều quan trọng là chuyển từ tư duy hoàn thành danh mục dự án sang quản trị theo kết quả. Mỗi khoản vốn cần có mục tiêu đầu ra rõ ràng; mỗi công trình phải gắn với phương án vận hành, bảo trì; mỗi mô hình sinh kế cần được theo dõi bằng thu nhập, việc làm và khả năng duy trì sau hỗ trợ. Cùng với đó, công khai vốn được giao, tiến độ giải ngân, đối tượng thụ hưởng và kết quả thực hiện phải trở thành yêu cầu bắt buộc, đi đôi với trách nhiệm người đứng đầu và sự giám sát của cộng đồng.
Các công trình cầu, giao thông, cấp thoát nước vùng dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh được sửa chữa, xây mới tạo điều kiện cho người dân đi lại, giao thương hàng hóa trong mùa mưa lũ (Ảnh: D.D)Thành quả giai đoạn 2021-2025 là nền tảng quan trọng, nhưng không phải điểm kết thúc. Giá trị bền vững của vốn dẫn dắt nằm ở khả năng biến đầu tư công thành năng lực tự phát triển của người dân, khơi thông nguồn lực xã hội mà vẫn bảo đảm công bằng và không để nhóm yếu thế bị bỏ lại phía sau. Nếu tiếp tục giữ vững kỷ luật ngân sách, phân bổ đúng trọng tâm và lấy chất lượng cuộc sống của người dân làm thước đo, tỉnh Quảng Ninh có cơ sở phát huy hiệu quả triển khai Chương trình MTQG 417 giai đoạn 2026-2030, tạo động lực phát triển bao trùm và củng cố vững chắc thế trận lòng dân ở vùng biên giới, hải đảo./.