Chương trình MTQG 417 ở tỉnh Cao Bằng tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiCao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nên điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn không ít khó khăn, với 10% diện tích đất nông nghiệp, 90% đất rừng núi, tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 95% dân số với các thành phần dân tộc như: Tày, Nùng, Mông, Dao... sinh sống. Vì vậy, các cấp chính quyền đã không ngừng nỗ lực tập trung phát triển kinh tế - xã hội để giúp đồng bào vượt qua khó khăn, vươn lên phát triển. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của bà con ngày càng được cải thiện. Để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số thiểu số và miền núi của tỉnh nhanh và bền vững hơn trong thời gian tới, việc đề xuất các giải pháp phát triển là hết sức cần thiết đối với Cao Bằng.
Sau giai đoạn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 (Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi), tỉnh Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong giai đoạn này, tỉnh Cao Bằng được giao tổng nguồn vốn Ngân sách Trung ương là trên 5.776 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư 2.679.114 triệu đồng; vốn sự nghiệp 3.122.526 triệu đồng. Vốn ngân sách địa phương đối ứng là 288.839 triệu đồng. Trên cơ sở đó, Cao Bằng đã triển khai 10 dự án thành phần, trong đó có 14 tiểu dự án, 14 nội dung và trên 60 hoạt động về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất; ổn định định canh định cư, tạo sinh kế; an sinh xã hội; bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững… Bên cạnh đó, tỉnh cũng kết hợp, lồng ghép với các chương trình, dự án khác để thực hiện có hiệu quả Chương trình MTQG. Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng đã giảm đáng kể, còn 4,66%; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% trạm y tế được xây dựng kiên cố; gần 13.000 hộ được hỗ trợ téc nước và 53 công trình nước sạch được hoàn thành.
Những kết quả ấy cho thấy, nguồn lực chính sách đã góp phần tạo chuyển biến rõ rệt về hạ tầng và đời sống. Nhưng chính những kết quả đạt được cũng đặt ra yêu cầu mới, đó là khi những thiếu hụt cơ bản từng bước được khắc phục, trọng tâm giảm nghèo phải chuyển từ hỗ trợ những nhu cầu mà người dân đang thiếu hụt sang giải quyết nguyên nhân khiến người dân chưa thể tự thoát nghèo.
Việc triển khai hiệu quả Chương trình MTQG 417 sẽ góp phần cải thiện đời sống, từng bước giảm nghèo, nâng cao thu nhập đồng bào dân tộc thiểu sốĐó chính là điểm mới của Chương trình MTQG 417 giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, Chương trình MTQG 417 không chỉ hướng tới giảm nghèo mà được triển khai trong một chỉnh thể gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mục tiêu đến năm 2030 là giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%, cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn, đồng thời nâng thu nhập và chất lượng các điều kiện sống của người dân. Đối tượng thụ hưởng được xác định rộng nhưng có trọng tâm, ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng biên giới và những địa bàn còn khó khăn.
Đồng thời, tỉnh đề xuất nhu cầu khoảng 2.917,561 tỷ đồng cho thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hướng tới giảm nghèo đa chiều trên 3%/năm, đưa 21 xã và trên 500 thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông và 100% hộ dân được sử dụng điện.
Việc xác định đúng đối tượng là điều kiện cần, tuy nhiên vẫn chưa phải là điều kiện đủ. Một hộ được xác định là nghèo mới cho biết kết quả của sự thiếu hụt, chưa lý giải đầy đủ nguyên nhân của sự thiếu hụt đó. Có hộ thiếu đất sản xuất; có hộ đã có đất sản xuất nhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật; có hộ đã sản xuất được nhưng không tiếp cận được thị trường; có nơi thiếu đường giao thông, nước sản xuất; có nơi nguồn nhân lực lại hạn chế; có hộ gặp rủi ro do thiên tai, bệnh tật hoặc thiếu khả năng thích ứng.... Nếu tất cả những trường hợp ấy cùng được hỗ trợ, đầu tư như nhau thì hiệu quả chính sách khó có thể đạt được kết quả như mong muốn.
Phát triển du lịch gắn với các vùng chè tại tỉnh Cao Bằng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, thiên nhiên của địa phươngBởi vậy, trong giai đoạn tới, Cao Bằng xác định triển khai Chương trình MTQG theo cách tiếp cận giảm nghèo dựa trên hồ sơ nguyên nhân nghèo của từng nhóm dân cư, từng địa bàn. Xác định rõ điểm nghẽn của các hộ nghèo, như: thiếu tư liệu sản xuất, thiếu kỹ năng, thiếu việc làm, thiếu vốn, thiếu liên kết thị trường và thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản… Ở cấp xã, thôn Cao Bằng cũng xác định điểm nghẽn mang tính không gian trong giảm nghèo, đó chính là giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, đất sản xuất, hạ tầng số, trường học, y tế và tổ chức sản xuất...
Ở cấp tỉnh, định hướng này đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030. Theo đó, tỉnh Cao Bằng đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 10%/năm trở lên, GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 75-80 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân trên 3%/năm và đến năm 2030 có trên 35,84% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Chương trình hành động của tỉnh đồng thời nhấn mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa có lợi thế, chuyển đổi cây trồng trên đất dốc và đất lúa kém hiệu quả, đào tạo nghề, phát triển kinh tế nông nghiệp tổng hợp và gắn nông nghiệp với du lịch.
Tỉnh Cao Bằng đặc biệt chú trọng đến công tác hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trên các địa bàn khó khăn, mở rộng sinh kế…Điều đó cho thấy giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng cần được đặt trong bài toán phát triển. Một con đường không chỉ để đi lại mà phải mở ra khả năng đưa hàng hóa đến được với thị trường; một mô hình sản xuất không chỉ tạo sản phẩm mà phải tạo thu nhập; đào tạo nghề không chỉ tạo chứng chỉ mà phải dẫn tới có việc làm; hỗ trợ vốn không chỉ giúp người dân đầu tư một vụ sản xuất mà phải tạo khả năng tích lũy, tái đầu tư và chống chịu trước rủi ro.
Thực tế cho thấy, hơn 500 dự án phát triển sản xuất trong giai đoạn 2021-2025 đã được triển khai với sự tham gia của trên 40.000 hộ dân. Cùng với đó, tính đến ngày 31/5/2026, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách trên địa bàn đạt 5.265,5 tỷ đồng; riêng 06 tháng đầu năm 2026, nguồn vốn này góp phần tạo và duy trì việc làm cho 4.462 lao động. Những kết quả đó cho thấy, hướng đi quan trọng của giảm nghèo không phải là kéo dài hỗ trợ, mà đặc biệt là kết hợp đầu tư hạ tầng, tín dụng, sinh kế, đào tạo, thị trường và tổ chức sản xuất để từng bước chuyển nguồn lực công thành năng lực kinh tế của người dân.
Trồng giống dẻ ghép, chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ cho năng suất đạt 20 – 25 tạ dẻ/ha, cao hơn so với trồng dẻ ươmVì vậy, giá trị sâu sắc và quan trọng của Chương trình MTQG 417 ở tỉnh Cao Bằng nằm ở sự thay đổi cách nhìn về đối tượng chính sách. Người nghèo không chỉ là người nhận hỗ trợ; họ phải trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Địa bàn khó khăn không chỉ là nơi cần được ưu tiên vốn; và đó phải là nơi được nhận diện chính xác điểm nghẽn để đầu tư tạo khả năng phát triển. Và một chính sách giảm nghèo không chỉ được đánh giá bằng số vốn đã giải ngân hay số hộ đã được hỗ trợ, mà cuối cùng phải được đo bằng số người có việc làm, số hộ có sinh kế ổn định, năng lực sản xuất được nâng lên, thu nhập tăng, khả năng chống chịu tốt hơn và nguy cơ tái nghèo giảm xuống.
Các xã gồm Đàm Thủy, Đình Phong, Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng) hiện có khoảng 570 ha dẻ cho thu hoạchTừ xác định đúng đối tượng đến nhận diện đúng nguyên nhân nghèo chính là bước chuyển từ quản lý đối tượng sang quản trị quá trình phát triển. Với tỉnh Cao Bằng, đó không chỉ là yêu cầu kỹ thuật trong thực hiện Chương trình MTQG 417, đặc biệt còn là cách biến nguồn lực của Nhà nước thành động lực nội sinh của cộng đồng. Khi chính sách chạm đúng nguyên nhân, nguồn lực được đặt đúng điểm nghẽn và người dân được trao đúng điều kiện để tự vươn lên, giảm nghèo mới thực sự trở thành một quá trình phát triển bền vững, thay vì chỉ là quá trình thu hẹp một con số thống kê…/.