Nhiều hộ nghèo người dân tộc thiểu số đã vươn lên thoát nghèo nhờ áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệpChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I 2026-2030 (Chương trình MTQG 417) đã đặt ra những mục tiêu đến năm 2030 như: tăng thu nhập bình quân người dân nông thôn lên 2,5-3 lần so với năm 2020, thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt một nửa mức bình quân chung cả nước, giảm tỷ lệ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) xuống dưới 10% và cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Mục tiêu này cho thấy yêu cầu của Chương trình không chỉ là hoàn thành các dự án, mà phải tạo ra những chuyển biến có tính bền vững trong đời sống và năng lực phát triển của người dân.
Khi xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào DTTS&MN được đặt trong một chỉnh thể, các nhiệm vụ không còn tồn tại như những ngăn kéo riêng biệt. Một tuyến đường có thể đồng thời mở rộng không gian sản xuất và cải thiện tiếp cận dịch vụ; đào tạo nghề có thể vừa tạo việc làm vừa giảm nghèo; phát triển vùng nguyên liệu có thể đồng thời thúc đẩy hợp tác xã, doanh nghiệp và kinh tế nông thôn. Vì vậy, nếu vẫn chỉ quản lý theo từng dự án, từng nguồn vốn và từng kỳ báo cáo, sẽ khó nhìn thấy đầy đủ tác động cộng hưởng của Chương trình.
Đây là nơi chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một công cụ đổi mới quản trị, chứ không phải một nhiệm vụ kỹ thuật. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, góp phần đổi mới phương thức quản trị quốc gia; đồng thời xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính.
Chương trình MTQG 417 ưu tiên phát triển toàn diện, nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiĐặt trong Chương trình MTQG 417, yêu cầu đầu tiên là đổi cách ra quyết định. Thay vì chủ yếu căn cứ vào hồ sơ, đề xuất và báo cáo của từng cấp, chuyển đổi số cho phép các cơ quan quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về nhu cầu, tiến độ, nguồn lực và kết quả. Điều quan trọng không phải có thêm bao nhiêu cơ sở dữ liệu, mà là thông tin được sử dụng như thế nào để trả lời những câu hỏi quản trị, như: địa bàn nào cần ưu tiên, nguồn lực nào cần tập trung, dự án nào cần điều chỉnh và mô hình nào có khả năng tạo tác động lớn hơn.
Từ đó, chuyển đổi số giúp chuyển phương thức phân bổ nguồn lực từ tư duy chia theo danh mục sang tập trung theo vấn đề phát triển. Một địa bàn còn khó khăn về giao thông nhưng có tiềm năng vùng nguyên liệu cần được nhìn nhận đồng thời cả bài toán hạ tầng và sản xuất. Một nhóm hộ thiếu việc làm không chỉ cần hỗ trợ vốn, đồng thời còn cần kết nối đào tạo, thị trường và doanh nghiệp. Khi những mối quan hệ ấy được nhìn nhận trong cùng một hệ thống quản trị, khả năng lồng ghép nguồn lực sẽ thực chất hơn, hạn chế đầu tư manh mún và trùng lặp.
Giá trị tiếp theo nằm ở quản trị tiến độ và trách nhiệm thực hiện. Công nghệ cho phép các cấp theo dõi quá trình triển khai, nhanh chóng nhận diện những dự án hoặc nhiệm vụ có nguy cơ chậm và xác định khâu cần tháo gỡ. Một dự án chậm không chỉ được ghi nhận bằng một tỷ lệ giải ngân thấp, đặc biệt còn cần được phân tích nguyên nhân, như: thủ tục, mặt bằng, đấu thầu, năng lực chủ đầu tư, phối hợp giữa các cơ quan hay khả năng hấp thụ của địa phương. Khi nguyên nhân được nhận diện sớm, điều hành có thể chuyển từ xử lý hậu quả sang chủ động tháo gỡ điểm nghẽn.
Đặc biệt, chuyển đổi số giúp thay đổi thước đo thành công. Quản lý truyền thống thường chú trọng vốn được giao, số dự án hoàn thành và tỷ lệ giải ngân. Quản trị phát triển phải quan tâm tới kết quả cuối cùng: thu nhập của người dân có tăng không, việc làm có bền vững không, sản phẩm có vào được thị trường không, hạ tầng có tạo ra năng lực sản xuất mới không và kết quả có được duy trì sau khi nguồn hỗ trợ kết thúc không.
Đây cũng là cơ sở để giải quyết bài toán biến hỗ trợ thành năng lực. Một mô hình sản xuất không nên được đánh giá chỉ bằng việc đã cấp đủ vốn hay chưa, mà bằng khả năng giúp người dân nâng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm, tiếp cận thị trường và tạo thu nhập ổn định. Một chương trình đào tạo không chỉ được đo bằng số người tham gia, mà còn bằng số lao động có việc làm hoặc có khả năng nâng cao thu nhập sau đào tạo. Một công trình hạ tầng không chỉ được tính bằng khối lượng xây dựng, và bằng giá trị kinh tế - xã hội mà nó tạo ra cho cộng đồng.
Đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng mạng 5G để khai thác thông tin trong kết nối thị trườngNhư vậy, chuyển đổi số giúp kết nối các khâu vốn thường bị tách rời, gồm: đầu tư, thực hiện, giám sát, đánh giá, điều chỉnh. Khi kết quả thực tế được phản hồi trở lại quá trình điều hành, chính sách có khả năng thích ứng tốt hơn với những khác biệt rất lớn giữa các địa bàn.
Bên cạnh đó, ở một phương diện quan trọng khác là trao thêm quyền chủ động cho người dân. Chuyển đổi số tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin về chính sách, tiêu chí hỗ trợ, thị trường, kỹ thuật sản xuất và tiến độ thực hiện các công trình trên địa bàn. Các hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nông thôn có thêm công cụ để quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng, truy xuất nguồn gốc và tham gia chuỗi giá trị.
Khi thông tin không còn tập trung chủ yếu ở cơ quan quản lý, khoảng cách giữa chính sách và người dân được thu hẹp. Người dân có thêm khả năng lựa chọn, phản hồi và tự quyết định. Đó chính là một biểu hiện quan trọng của tự lực, tự cường trong môi trường số: không chỉ được hỗ trợ, mà có thêm năng lực tiếp cận cơ hội và tự tổ chức phát triển.
Tuy nhiên, số hóa chỉ có ý nghĩa khi làm cho quản trị đơn giản hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn. Nếu mỗi chương trình tạo một hệ thống riêng, cán bộ phải nhập lại cùng một thông tin ở nhiều nơi, người dân phải cung cấp nhiều lần những dữ liệu giống nhau, thì công nghệ sẽ trở thành một lớp thủ tục mới. Vì vậy, cần hướng tới liên thông hệ thống, giảm báo cáo thủ công, chuẩn hóa quy trình và bảo đảm nguyên tắc một thông tin được cập nhật một lần nhưng có thể phục vụ nhiều nhiệm vụ quản lý.
Cán bộ người dân tộc thiểu số được tiếp cận thông tin qua nền tảng sốTrong bối cảnh Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/08/2026 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở tích hợp các chương trình, yêu cầu quản trị liên ngành, liên địa bàn và liên nguồn lực càng trở nên rõ nét.
Do đó, chuyển đổi số cần được coi là hạ tầng mềm của quản trị Chương trình MTQG 417. Đặc biệt còn phải giúp các cấp chính quyền nhìn được toàn bộ chuỗi phát triển thay vì từng dự án riêng lẻ; phối hợp các nguồn lực thay vì quản lý từng nguồn vốn biệt lập; phát hiện điểm nghẽn trước khi trở thành ách tắc; và đánh giá chính sách bằng những thay đổi thực tế trong đời sống người dân.
Chuyển đổi số đã vượt khỏi phạm vi cải cách hành chính để trở thành một phương thức kiến tạo phát triểnCó thể nói, chuyển đổi số không phải mục tiêu tự thân. Giá trị của nó được xác định bằng một câu hỏi đặt ra là: công nghệ có giúp người dân có thêm cơ hội và năng lực để tự phát triển hay không? Nếu câu trả lời là có, chuyển đổi số đã vượt khỏi phạm vi cải cách hành chính để trở thành một phương thức kiến tạo phát triển.
Từ quản lý sang quản trị không phải là thay đổi cách gọi, mà là thay đổi cách Nhà nước nhìn nhận và tổ chức quá trình phát triển. Từ quản lý vốn sang quản trị tác động; từ theo dõi dự án sang tháo gỡ điểm nghẽn; từ cung cấp hỗ trợ sang mở rộng năng lực; từ người dân là đối tượng thụ hưởng sang người dân là chủ thể tham gia. Khi chuyển đổi số tạo được những thay đổi ấy, Chương trình MTQG 417 sẽ có thêm một nền tảng quan trọng để biến nguồn lực công thành năng lực nội sinh, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường và tạo ra những kết quả phát triển có khả năng duy trì lâu dài…/.