Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn

ThS. Nguyễn Duy Dũng - 10:24, 07/10/2026

(DTTS) - Tóm tắt: Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là nguồn vốn đặc thù, có khả năng tạo giá trị kinh tế, việc làm và sinh kế cộng đồng nếu được bảo tồn và khai thác phù hợp. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và cơ chế biến di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn, tập trung vào du lịch cộng đồng, làng nghề, sản phẩm văn hóa, OCOP và tri thức địa phương. Trên cơ sở tiếp cận sinh kế bền vững, vốn văn hóa và phát triển dựa vào cộng đồng, nghiên cứu chỉ ra yêu cầu chuyển từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với sáng tạo, thị trường và phân phối lợi ích công bằng. Qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, nâng cao giá trị di sản và tạo sinh kế bền vững.


Múa sư tử mèo có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn
Múa sư tử mèo có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn

Từ khóa: Di sản văn hóa; Sinh kế bền vững; Vốn văn hóa; Du lịch cộng đồng; tỉnh Lạng Sơn.

1. Đặt vấn đề

Di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số không chỉ là kết tinh của lịch sử, tri thức và bản sắc cộng đồng mà còn chứa đựng tiềm năng trở thành nguồn lực kinh tế và sinh kế bền vững. Trong bối cảnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế trải nghiệm và du lịch cộng đồng, việc chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ và cơ hội việc làm có ý nghĩa đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vấn đề cốt lõi không phải là thương mại hóa di sản, mà là tạo ra cơ chế để giá trị văn hóa được chuyển hóa thành giá trị sinh kế mà vẫn bảo đảm tính nguyên bản, quyền chủ thể và lợi ích của cộng đồng.

Lạng Sơn có hệ thống di sản văn hóa phong phú của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chay..., cùng các lễ hội, Then, sli, lượn, ẩm thực, trang phục, làng nghề và tri thức tộc người. Tỉnh đã định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa và cải thiện sinh kế người dân. Tuy nhiên, khả năng chuyển hóa di sản thành sản phẩm có giá trị gia tăng, tạo việc làm và thu nhập ổn định vẫn còn nhiều dư địa. Vì vậy, nghiên cứu tập trung phân tích cơ chế biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, phát triển thị trường và nâng cao đời sống cộng đồng.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Vai trò của di sản văn hóa đối với phát triển sinh kế

Di sản văn hóa dân tộc thiểu số không trực tiếp tạo ra sinh kế mà được chuyển hóa thành nguồn lực tạo ra sinh kế thông qua một chuỗi cơ chế kinh tế - xã hội. Trước hết, di sản tạo giá trị khác biệt cho địa phương; các giá trị về Then, sli, lượn, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc nhà ở, nghề thủ công và tri thức tộc người trở thành yếu tố hình thành sản phẩm du lịch, trải nghiệm và hàng hóa văn hóa. Tiếp đó, quá trình sản phẩm hóa biến giá trị văn hóa thành dịch vụ và hàng hóa có khả năng trao đổi trên thị trường, từ đó tạo việc làm cho nghệ nhân, hộ gia đình, phụ nữ, thanh niên và các chủ thể kinh doanh cộng đồng. Lạng Sơn hiện xác định du lịch cộng đồng là một sản phẩm chủ đạo, đồng thời thúc đẩy liên kết sản phẩm, làng nghề và OCOP gắn với bảo tồn bản sắc.

Cơ chế này có thể khái quát thành sáu mắt xích: (1) nhận diện và bảo tồn giá trị di sản; (2) sáng tạo, sản phẩm hóa; (3) tổ chức sản xuất và cung ứng dịch vụ; (4) kết nối thị trường; (5) tạo doanh thu, việc làm và thu nhập; (6) tái đầu tư cho hộ gia đình, cộng đồng và bảo tồn di sản. Như vậy, một làn điệu dân ca không chỉ có giá trị biểu tượng mà có thể trở thành nội dung trải nghiệm; nhà sàn không chỉ là không gian cư trú mà có thể trở thành homestay; ẩm thực truyền thống có thể trở thành dịch vụ ăn uống; nghề thủ công có thể trở thành sản phẩm OCOP và quà tặng du lịch.

Điểm quan trọng là cộng đồng phải giữ vai trò chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị. Khi người dân vừa sở hữu tri thức, vừa tham gia sản xuất, cung ứng dịch vụ và hưởng lợi, thu nhập từ di sản có khả năng quay trở lại duy trì nghề, truyền dạy kỹ năng và bảo tồn không gian văn hóa. Ngược lại, nếu cộng đồng chỉ cung cấp “chất liệu văn hóa” nhưng không kiểm soát sản phẩm và phân phối lợi ích, quá trình khai thác khó tạo sinh kế bền vững. Vì vậy, mục tiêu của tỉnh Lạng Sơn không chỉ là “đưa di sản ra thị trường”, mà phải xây dựng chuỗi giá trị di sản do cộng đồng tham gia và hưởng lợi, tạo vòng tuần hoàn: bảo tồn - tạo giá trị - tạo sinh kế - tái đầu tư bảo tồn. Đây là cơ chế nền tảng để biến di sản từ “tài sản văn hóa” thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững.

2.2. Biến di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển sinh kế ở tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn đang từng bước chuyển hóa di sản văn hóa dân tộc thiểu số từ tài sản văn hóa thành nguồn lực sinh kế, chủ yếu thông qua du lịch cộng đồng, dịch vụ trải nghiệm, nghề thủ công, sản phẩm OCOP và kinh tế hộ gia đình. Kế hoạch số 34/KH-UBND ngày 5/2/2025 của UBND tỉnh Lạng Sơn về phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn đến năm 2030, xác định du lịch cộng đồng là sản phẩm chủ đạo, đồng thời đặt mục tiêu mỗi điểm du lịch cộng đồng có câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ truyền thống; 90% lao động được bồi dưỡng nghiệp vụ và mỗi huyện (nay là xã) có tiềm năng xây dựng ít nhất hai mô hình chuỗi liên kết du lịch cộng đồng.

Cơ chế tạo sinh kế được thể hiện trước hết ở quá trình “sản phẩm hóa” di sản. Những giá trị như nhà sàn truyền thống, Then, sli, lượn, lễ hội, trang phục, ẩm thực và nghề thủ công được chuyển từ dạng giá trị văn hóa sang các sản phẩm và dịch vụ có khả năng trao đổi trên thị trường. Tại các địa bàn như Quỳnh Sơn và Hữu Liên (tỉnh Lạng Sơn), không gian nhà ở, cảnh quan làng bản và thực hành văn hóa được tích hợp với homestay, ẩm thực, trải nghiệm văn nghệ và hoạt động khám phá cộng đồng. Như vậy, một đơn vị di sản có thể tạo đồng thời nhiều nguồn thu: hộ gia đình có thu nhập từ lưu trú; nghệ nhân từ biểu diễn, truyền dạy; người dân từ chế biến thực phẩm; người sản xuất từ hàng thủ công và nông sản; thanh niên từ hướng dẫn, truyền thông và dịch vụ du lịch.

Cơ chế thứ hai là gia tăng giá trị sản phẩm thông qua “gắn văn hóa với hàng hóa”. Một sản phẩm truyền thống khi được chuẩn hóa về chất lượng, bao bì, câu chuyện nguồn gốc và thương hiệu có thể tiếp cận thị trường rộng hơn. Chương trình OCOP của Lạng Sơn hiện không chỉ hướng đến sản phẩm nông nghiệp mà còn thúc đẩy phát huy sản phẩm truyền thống, hình thành chuỗi liên kết, xây dựng thương hiệu và mở rộng tiêu thụ qua thương mại điện tử. Cơ chế này tạo ra giá trị gia tăng theo chuỗi: “tri thức văn hóa - sản phẩm - thương hiệu - thị trường - doanh thu - việc làm và thu nhập”.

Cơ chế thứ ba là tạo việc làm và đa dạng hóa sinh kế hộ gia đình. Di sản giúp mở rộng sinh kế từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang nhiều hoạt động bổ trợ: lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, biểu diễn, chế tác thủ công, bán sản phẩm đặc sản và tổ chức trải nghiệm. Đặc biệt, chính sách phát triển du lịch cộng đồng của tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 50% lao động du lịch cộng đồng được đào tạo là phụ nữ, qua đó mở rộng cơ hội tham gia kinh tế cho nhóm thường ít có cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp. Cơ chế thứ tư là tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng. Một điểm du lịch văn hóa phát triển không chỉ tạo thu nhập cho hộ trực tiếp kinh doanh mà còn kéo theo nhu cầu về nông sản, thực phẩm, vận chuyển, sản phẩm thủ công và dịch vụ địa phương. Vì vậy, giá trị kinh tế của di sản cần được đánh giá theo chuỗi giá trị cộng đồng, thay vì chỉ tính doanh thu của cơ sở du lịch.

Từ thực tiễn trên có thể khái quát cơ chế tạo sinh kế của di sản ở tỉnh Lạng Sơn theo chuỗi: “di sản - nhận diện giá trị - sản phẩm hóa - tổ chức cung ứng - kết nối thị trường - doanh thu - việc làm và thu nhập - tái đầu tư bảo tồn”. Điểm quyết định tính bền vững là phần giá trị gia tăng phải được giữ lại ở cộng đồng. Khi nghệ nhân, hộ gia đình, hợp tác xã và cộng đồng cùng tham gia và hưởng lợi, thu nhập từ di sản có thể quay trở lại duy trì nghề, truyền dạy tri thức và bảo vệ không gian văn hóa. Ngược lại, nếu cộng đồng chỉ cung cấp “chất liệu văn hóa” nhưng lợi ích kinh tế chủ yếu nằm ở bên ngoài, di sản khó trở thành nền tảng của sinh kế bền vững.

Do đó, vấn đề hiện nay của tỉnh Lạng Sơn không chỉ là khai thác được bao nhiêu di sản, mà quan trọng hơn là tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng và bao nhiêu giá trị đó được giữ lại cho cộng đồng dân tộc thiểu số. Đây chính là tiêu chí then chốt để chuyển từ tư duy “khai thác di sản phục vụ du lịch” sang “phát triển sinh kế dựa trên di sản”.

2.3. Những vấn đề đặt ra

Từ thực tiễn biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực sinh kế ở tỉnh Lạng Sơn, có thể nhận diện năm nhóm vấn đề theo các tiêu chí phát triển bền vững.

Thứ nhất, về kinh tế, thách thức lớn nhất là khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị gia tăng còn hạn chế. Sản phẩm du lịch và hàng hóa văn hóa ở một số nơi còn đơn giản, thiếu liên kết giữa di sản, hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường. Việc tỉnh đặt mục tiêu xây dựng ít nhất hai chuỗi liên kết du lịch cộng đồng tại các địa bàn có tiềm năng cho thấy yêu cầu tổ chức chuỗi giá trị vẫn rất lớn. Thứ hai, về văn hóa, nguy cơ thương mại hóa, sân khấu hóa và làm giản lược thực hành văn hóa đặt ra yêu cầu bảo đảm tính xác thực. Di sản chỉ có thể trở thành nguồn lực lâu dài nếu khai thác kinh tế đồng thời duy trì khả năng trao truyền và tái tạo của cộng đồng.

Thứ ba, về xã hội, cần giải quyết bài toán ai tham gia và ai được hưởng lợi. Nếu lợi ích tập trung ở một số cơ sở kinh doanh, trong khi nghệ nhân và hộ gia đình chỉ cung cấp “chất liệu văn hóa”, khai thác di sản khó tạo sinh kế bao trùm. Đây là lý do chính sách của tỉnh nhấn mạnh chia sẻ lợi ích hài hòa và cải thiện đời sống người dân.

Thứ tư, về môi trường, gia tăng khách du lịch nếu thiếu kiểm soát có thể tạo áp lực lên cảnh quan, nước, chất thải và không gian làng bản. Vì vậy, phát triển sinh kế dựa trên di sản phải gắn với sức chịu tải của điểm đến và bảo vệ tài nguyên.

Thứ năm, về thể chế và quản trị, cần nâng cao năng lực cộng đồng về quản trị, marketing, số hóa và tổ chức chuỗi giá trị. Tỉnh Lạng Sơn đã đặt mục tiêu 90% lao động du lịch cộng đồng được đào tạo và 95% điểm du lịch cộng đồng ứng dụng công nghệ thông tin, cho thấy năng lực quản trị và thị trường đang là khâu then chốt.

Như vậy, tính bền vững không thể đo bằng số lượng sản phẩm hay lượng khách đơn thuần, mà phải được đánh giá qua khả năng tạo thu nhập ổn định, bảo tồn giá trị văn hóa, phân phối lợi ích công bằng, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực tự quản của cộng đồng. Đây là cơ sở để Lạng Sơn chuyển từ mô hình “khai thác di sản” sang “phát triển sinh kế dựa trên di sản”.

2.4. Giải pháp

Để biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững, tỉnh Lạng Sơn cần chuyển từ tư duy “khai thác di sản” sang “kiến tạo chuỗi giá trị dựa trên di sản”.

Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ giá trị di sản gắn với sinh kế, phân loại di sản theo khả năng bảo tồn, khai thác có kiểm soát và sản phẩm hóa; xác định rõ chủ thể văn hóa, sản phẩm tiềm năng, thị trường và mức độ hưởng lợi của cộng đồng. Thứ hai, tổ chức chuỗi giá trị “di sản - sản phẩm - thị trường - thu nhập - tái đầu tư bảo tồn”. Then, sli, lượn, lễ hội, trang phục, ẩm thực, nhà sàn và nghề thủ công cần được phát triển thành các sản phẩm trải nghiệm, dịch vụ du lịch, hàng hóa văn hóa và sản phẩm OCOP có thương hiệu, thay vì chỉ dừng ở hoạt động trình diễn. Chính sách của tỉnh đã đặt mục tiêu xây dựng ít nhất hai chuỗi liên kết du lịch cộng đồng tại các địa bàn có tiềm năng và hai làng nghề truyền thống có sản phẩm OCOP gắn với du lịch cộng đồng.

Thứ ba, đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của phân phối giá trị. Hiệu quả không nên chỉ đo bằng lượng khách hay tổng doanh thu; cần đo bằng số hộ hưởng lợi, thu nhập từ di sản, tỷ lệ giá trị giữ lại tại địa phương và phần thu nhập tái đầu tư cho bảo tồn. Năm 2025, Lạng Sơn đạt khoảng 4,44 triệu lượt khách và 4.501 tỷ đồng doanh thu du lịch, cho thấy thị trường đã có quy mô đáng kể; vấn đề tiếp theo là nâng tỷ lệ giá trị kinh tế thực sự đến với cộng đồng.

Thứ tư, nâng cao năng lực cộng đồng và số hóa di sản. Ưu tiên nghệ nhân, phụ nữ và thanh niên về quản trị, marketing, ngoại ngữ, thương mại điện tử và sáng tạo nội dung; đồng thời xây dựng hồ sơ số, QR, bản đồ số và thương hiệu số cho sản phẩm. Đây cũng là hướng phù hợp với mục tiêu 95% điểm du lịch cộng đồng ứng dụng CNTT.

Thứ năm, thiết lập cơ chế bảo đảm tính xác thực, môi trường và phân phối lợi ích công bằng. Một phần nguồn thu cần được tái đầu tư cho truyền nghề, duy trì không gian văn hóa và bảo vệ cảnh quan. Qua đó hình thành vòng tuần hoàn “bảo tồn - sáng tạo - sản phẩm hóa - thị trường - sinh kế - tái đầu tư bảo tồn”, biến di sản từ tài sản văn hóa thành nguồn lực sinh kế có khả năng tái tạo cho cộng đồng các dân tộc thiểu số.

3. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực sinh kế ở Lạng Sơn không đơn thuần là khai thác giá trị văn hóa cho du lịch, mà là quá trình chuyển hóa vốn văn hóa thành giá trị kinh tế trong một hệ sinh thái sinh kế có sự tham gia của cộng đồng. Năm 2025, Lạng Sơn đón khoảng 4,44 triệu lượt khách, tổng thu du lịch đạt khoảng 4.501 tỷ đồng; Quỳnh Sơn được UN Tourism công nhận là Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025. Tuy nhiên, quy mô doanh thu cấp tỉnh chưa đồng nghĩa với mức độ cải thiện sinh kế của cộng đồng DTTS.

Vấn đề cốt lõi ở đây là khả năng giữ lại và phân phối giá trị. Một mô hình chỉ bền vững khi di sản tạo việc làm, nâng thu nhập hộ gia đình, thúc đẩy sản phẩm địa phương và một phần nguồn thu được tái đầu tư cho bảo tồn, truyền nghề và duy trì không gian văn hóa. Định hướng của tỉnh đến năm 2027 về đào tạo 90% lao động du lịch cộng đồng, xây dựng chuỗi liên kết và ứng dụng công nghệ số cho 95% điểm du lịch cộng đồng cho thấy chính sách đang chuyển từ khai thác đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái giá trị.

Do đó, cần nhìn nhận quan hệ bảo tồn - sinh kế theo hướng bổ trợ: “di sản tạo khác biệt - sản phẩm tạo giá trị - thị trường tạo thu nhập - thu nhập tái đầu tư cho bảo tồn”. Điều kiện quyết định là cộng đồng phải giữ vai trò chủ thể và được hưởng lợi tương xứng; nếu thương mại hóa làm suy giảm tính xác thực hoặc lợi ích chủ yếu rời khỏi địa phương, quá trình này sẽ mất tính bền vững.

4. Kết luận

Biến di sản văn hóa dân tộc thiểu số thành nguồn lực phát triển sinh kế bền vững ở Lạng Sơn là quá trình chuyển hóa vốn văn hóa thành giá trị sinh kế, dựa trên sự kết nối giữa bảo tồn, sáng tạo sản phẩm, thị trường và cộng đồng. Thực tiễn Quỳnh Sơn cho thấy hướng tiếp cận này có tính khả thi khi giá trị nhà sàn, nghệ thuật Then, đàn tính, lễ hội và văn hóa Tày được tích hợp vào du lịch cộng đồng và được UN Tourism công nhận là “Làng du lịch tốt nhất năm 2025”. Tuy nhiên, tính bền vững không thể đo bằng lượng khách hay doanh thu đơn thuần, mà phải được đánh giá qua việc làm, thu nhập, mức độ giữ lại giá trị tại cộng đồng, truyền nghề, bảo tồn văn hóa và tái đầu tư cho di sản. Vì vậy, Lạng Sơn cần tiếp tục xây dựng chuỗi giá trị dựa trên di sản, nâng cao năng lực cộng đồng và hoàn thiện cơ chế phân phối lợi ích, qua đó hình thành vòng tuần hoàn bảo tồn - tạo giá trị - phát triển sinh kế - tái đầu tư bảo tồn .

*Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021), Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Hà Nội.

2. Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, Hà Nội.