Đồng bào Mông hái chè Shan tuyết cổ thụGiữa mây núi bảng lảng của bản Giàng Pằng, xã Sơn Lương, tỉnh Lào Cai, những cây chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ là sinh kế mà còn là “tài sản văn hóa” của người Mông.
Ông Giàng A Hờ, mái tóc bạc như sương núi, chậm rãi kể, giọng trầm và ấm: “Chè là hơi thở của bản, là bạn của người Mông”. Trước bếp lửa reo tí tách, tôi hỏi vì sao giữa núi cao khắc nghiệt, người Mông vẫn chọn cây chè để gắn bó, ông lặng im một lúc rồi nói khẽ: “Người Mông đi đâu cũng tìm nơi có nước, có rừng, có mây. Ở đây, đất chọn người trước, rồi người mới chọn chè để sống”.
Trong làn sương bảng lảng giữa núi rừng Giàng Pằng, tôi chợt hiểu rằng câu chuyện về chè nơi đây không chỉ được truyền lại bằng lời kể, mà được chưng cất từ chính cuộc đời của những con người gắn bó trọn vẹn với núi rừng. Mỗi búp chè, mỗi gốc cây chè cổ thụ đều mang trong mình ký ức về một hành trình dài - hành trình đi tìm đất sống, hành trình bám đất và giữ đất của người Mông nơi non cao.
Cách đây hơn một thế kỷ, những nhóm người Mông từ vùng Sùng Đô (huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cũ, nay là tỉnh Lào Cai) đã vượt qua núi cao, dốc đứng để tìm miền đất mới. Họ mang theo bên mình giống chè Shan tuyết từ Suối Giàng như mang theo một phần ký ức và niềm hy vọng sinh kế. Khi đặt chân đến Giàng Pằng, họ đối mặt với một vùng khí hậu khắc nghiệt, mùa đông lạnh giá, sương mù dày đặc. Chính điều kiện tự nhiên ấy khiến cây chè sinh trưởng chậm, nhưng bù lại, búp chè giữ được lớp lông tuyết dày, tạo nên hương vị đậm đà, thanh khiết đặc trưng của vùng cao mà ít nơi nào có được.
Những ngày đầu, chè gần như lớn lên tự nhiên, ít được chăm sóc. Đồng bào khi ấy còn phụ thuộc nhiều vào nương rẫy, chưa thực sự nhận ra giá trị kinh tế của cây chè. Có những mùa đông khắc nghiệt, băng giá phủ trắng lá, nhiều cây chè chết đứng, khiến bà con nản lòng. Nhưng khi chứng kiến người dân Suối Giàng sống được nhờ chè, họ quay trở lại. Những bàn tay chai sạn bắt đầu phát cỏ, tỉa cành, vun gốc, chăm chút từng cây chè cổ thụ. Từ đó, cây chè trở thành điểm tựa, với người Mông.
Chiều buông nhanh trên bản Giàng Pằng, cái lạnh len lỏi qua từng lối nhỏ. Trong căn bếp ám khói, ông Giàng A Hờ - người được bà con gọi bằng cái tên thân thương “kho chè sống” vẫn miệt mài bên chảo gang đen bóng. Đôi bàn tay đã run theo năm tháng, nhưng từng động tác đảo chè vẫn dứt khoát, đều đặn như một thói quen đã ăn sâu vào máu thịt. Ánh lửa bập bùng soi rõ những nếp nhăn hằn sâu trên gương mặt, ông chậm rãi nói: “Cây chè cũng như con người, phải chịu được sương gió thì mới giữ được hương”.
Nhắc về cách làm chè xưa, ông kể bằng giọng trầm như lật lại từng lớp ký ức: Chè hái về được vò bằng tay, rồi đem phơi dưới nắng. Nắng càng gắt, nước chè càng đỏ, vị càng chát, nhưng lại làm ấm lòng giữa những ngày đông buốt giá. Chè khi ấy không chỉ để uống, mà còn là cách để giữ ấm, để mời khách, để kết nối tình người giữa núi rừng. Ngày nay, máy móc đã hỗ trợ nhiều công đoạn, giúp giảm sức lao động và nâng cao chất lượng, nhưng theo ông, cái “hồn” của chè trên núi cao vẫn không đổi, vẫn là vị chát dịu nơi đầu lưỡi, là dư vị ngọt sâu nơi cổ họng.
Một người trẻ trong bản nói vui, chè làm theo cách cũ vẫn được giữ lại để “uống cho nhớ”, nhưng công nghệ mới giúp nước chè đẹp hơn, vị dịu hơn, phù hợp với thị hiếu thị trường. Bởi thế, như anh Giàng A Củ chia sẻ giá trị của chè đã tăng lên rõ rệt. Từ búp chè tươi Giàng Pằng nay đã có thể chế biến thành những dòng trà đặc sản có giá trị cao. Nhờ đó, nhiều người trẻ không còn phải rời bản đi làm ăn xa, mà có thể ở lại, phát triển kinh tế ngay trên chính mảnh đất quê hương.
Công đoạn sao chè mới.Ông Trịnh Xuân Thành - Bí thư xã Sơn Lương cho biết, Giàng Pằng là vùng chè đặc biệt nhờ điều kiện tự nhiên hiếm có: độ cao lớn, khí hậu mát lạnh quanh năm, sương mù dày và thổ nhưỡng phù hợp. Chính những yếu tố ấy đã tạo nên chất lượng riêng cho chè Shan tuyết nơi đây vị đậm nhưng thanh, hương thơm sâu và bền. Tuy nhiên, theo ông, yếu tố quyết định vẫn nằm ở con người. Người Mông ở Giàng Pằng từ lâu đã có kinh nghiệm chăm chè theo cách truyền thống, biết tôn trọng tự nhiên để giữ cho cây chè phát triển bền vững.
Nói về cách làm chè hiện nay, ông Thành cho rằng địa phương đang từng bước kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Người dân vẫn giữ các khâu quan trọng như chọn búp, sao chè, cảm nhận nhiệt độ bằng kinh nghiệm, nhưng đồng thời cũng ứng dụng máy móc trong chế biến để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc sản xuất theo hướng sạch, không lạm dụng hóa chất đang dần trở thành ý thức chung, giúp chè Giàng Pằng đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường.
Ông nhấn mạnh, chính quyền địa phương đóng vai trò định hướng và hỗ trợ, từ việc xây dựng vùng nguyên liệu, hướng dẫn kỹ thuật, đến kết nối thị trường và xây dựng thương hiệu. Nhưng điều cốt lõi vẫn là sự chủ động của đồng bào - những người trực tiếp làm ra sản phẩm và gìn giữ “hồn chè”.
Anh A Việt kiểm tra chất lượng chè Shan tuyết xuất khẩu sang PhápHôm nay, chè Giàng Pằng không còn bó hẹp trong phạm vi bản làng mà đã từng bước tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, trong đó có cả xuất khẩu. Đây không chỉ là thành quả kinh tế, mà còn là dấu hiệu cho thấy một hướng phát triển đúng, giúp người dân có sinh kế bền vững ngay trên quê hương mình.
Từ những nong chè phơi trước hiên nhà đến các lò sấy hiện đại; từ gùi chè xuống chợ phiên đến những đơn hàng xuất khẩu trà ra thế giới, tất cả là một hành trình chuyển đổi dài, nhưng không đánh mất mình. Cây chè vẫn ở đó, trên những triền núi phủ sương. Người Mông vẫn ở đó, gắn bó với đất, với rừng, với cây chè. Chỉ có cách làm là thay đổi, bài bản hơn, khoa học hơn và hướng ra thị trường rộng lớn hơn.
Giữa mây ngàn Giàng Pằng, những búp chè Shan tuyết tiếp tục bật xanh, không chỉ mang theo hương vị của núi rừng, mà còn mở ra hướng đi mới, nơi truyền thống và hiện đại song hành, nơi cây chè không chỉ nuôi sống con người, mà còn chở theo khát vọng vươn xa, chạm tới những thị trường ngoài biên giới./.