Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Những kết quả nổi bật trong thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Khmer

Trần Dũng - 16:46, 22/09/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Dân tộc Khmer là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số có dân số đông ở Việt Nam, cư trú tập trung chủ yếu tại khu vực Tây Nam Bộ. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, cộng đồng Khmer đã hình thành hệ giá trị văn hóa đặc sắc, góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Bài viết này nhằm tổng kết một số kết quả nổi bật trong thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, qua đó, làm sáng tỏ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Thế hệ trẻ người Khmer được trao truyền việc thực hành và giữ gìn những di sản văn hóa của dân tộc
Thế hệ trẻ người Khmer được trao truyền việc thực hành và giữ gìn những di sản văn hóa của dân tộc

Từ khóa: Dân tộc Khmer; Bảo tồn văn hóa; Chính sách.

1. Khái quát về cộng đồng và văn hóa dân tộc Khmer

Trong cộng đồng 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, dân tộc Khmer có dân số đông, với trên 1,3 triệu người, cư trú chủ yếu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đây là cộng đồng dân cư có lịch sử cư trú lâu đời, sinh sống thành cộng đồng, đan xen với các dân tộc Kinh, Hoa và một số dân tộc khác. Đại bộ phận đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, một bộ phận nhỏ sinh sống bằng dịch vụ, buôn bán. Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer. Văn hóa Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần và trở thành yếu tố chi phối tư tưởng, tình cảm của cộng đồng dân cư. Hiện nay, toàn vùng có hơn 450 chùa Phật giáo Nam tông Khmer; tại tỉnh Vĩnh Long có trên 140 chùa Khmer; tại thành phố Cần Thơ, địa bàn Sóc Trăng có trên 90 chùa; tỉnh An Giang có trên 70 chùa. Hệ thống chùa Khmer giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng. Chùa là trung tâm của phum, sóc và mỗi phum, sóc phải có một ngôi chùa. Đóng góp xây dựng chùa được xem như đóng góp cho đời sống vĩnh hằng, nhiều kiếp của con người theo quan niệm Phật giáo. Cuộc đời của người Khmer gắn liền với chùa. Con em đồng bào Khmer lên chùa tu tập để hiểu về lẽ phải, rèn luyện đạo đức và xem như một phần trong việc báo hiếu công ơn sinh thành của cha mẹ. Khi lớn lên, họ vẫn thường xuyên đến chùa để tìm nơi nương tựa cho đời sống tinh thần và khi già đi, họ mong được an táng trong khu đất chùa để linh hồn thanh thản. Bởi vậy, chùa Khmer không chỉ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là nơi bảo tồn, truyền dạy tiếng nói, chữ viết, lưu giữ thư tịch cổ, nghệ thuật dân gian, giáo dục đạo đức và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống cho các thế hệ dân tộc Khmer. Những ngôi chùa Khmer hiện nay chính là những “bảo tàng sống” của văn hóa Khmer.

Đối với dân tộc Khmer ở Tây Nam Bộ, không gian văn hóa được hình thành trên nền tảng mối quan hệ hữu cơ giữa phum, sóc, gia đình và chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Trải qua nhiều thế hệ, đồng bào đã sáng tạo nên một kho tàng văn hóa đa dạng, phong phú, hòa quyện giữa dân tộc và tôn giáo với hệ thống lễ hội truyền thống, tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật trình diễn dân gian, tri thức tộc người, nghề thủ công truyền thống và các thiết chế văn hóa cộng đồng đặc sắc, góp phần tạo nên sự đa dạng và thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam.

Bên cạnh đó, các lễ hội truyền thống như: Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Oóc Om Bóc, lễ cúng Trăng, đua ghe Ngo, Dua Tpeng (Phá Bàu)… tiếp tục được duy trì rộng khắp tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Đây không chỉ là các hoạt động tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng mà còn là môi trường thực hành, trao truyền nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống như: Dù kê, Rô băm, nhạc ngũ âm, hát Aday, múa chằn, múa rom vong, múa lâm thôn… Nhiều loại hình di sản văn hóa của dân tộc Khmer đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: nghệ thuật Dù kê, nghệ thuật Rô băm, lễ hội Oóc Om Bóc, nghệ thuật trình diễn dân gian nhạc ngũ âm, nghề làm cốm dẹp, nghệ thuật múa dân gian. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai các hoạt động bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay.

2. Một số kết quả bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer

Đối với các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Khmer nói riêng, văn hóa là dấu hiệu nhận diện tộc người, là yếu tố duy trì sự cố kết cộng đồng, bảo đảm tính liên tục của lịch sử, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa quốc gia. Nghị quyết số 80- NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam còn nhấn mạnh văn hóa là “nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc thiểu số. Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn tiếng nói, chữ viết, lễ hội, tri thức dân gian, nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường đầu tư cho văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày 10/01/2018, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới. Đây là văn kiện chuyên đề quan trọng nhất đối với dân tộc Khmer Nam Bộ. Chỉ thị yêu cầu chăm lo bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer; đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở; duy trì, phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống; bảo vệ di sản văn hóa chùa chiền, kết hợp với xây dựng nhà văn hóa trong vùng đồng bào Khmer; nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ sửa chữa, trùng tu chùa chiền cho đồng bào dân tộc Khmer; xây dựng chương trình, quy chế thống nhất về nội dung giảng dạy, tuyển sinh đối với Trường bổ túc văn hóa Pali và chữ Khmer ở các cấp học và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer…

Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư đã được thực hiện đồng bộ tại các địa phương có đông dân tộc Khmer sinh sống, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các nội dung bảo tồn văn hóa Khmer tiếp tục được lồng ghép triển khai thực hiện trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, đặc biệt thông qua Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Thứ nhất, đối với công tác trùng tu, tôn tạo, giữ gìn hệ thống kiến trúc các ngôi chùa Phật giáo Nam tông và các thiết chế văn hóa Khmer. Các ngôi chùa được đầu tư trùng tu đúng với nguyên mẫu kiến trúc truyền thống, giữ nguyên các yếu tố điêu khắc, hoa văn mang đặc trưng của văn hoá Khmer Nam Bộ. Nhiều chùa cổ có giá trị kiến trúc nghệ thuật cao như chùa Dơi, chùa KhLeang (Cần Thơ), chùa Âng (Vĩnh Long), chùa Xiêm Cán (Cà Mau), chùa Xvayton (Xà Tón) ở An Giang… đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh.

Các thiết chế văn hóa trong vùng đồng bào Khmer được các địa phương quan tâm đầu tư, nâng cấp và xây mới. Giai đoạn 2021-2025, thực hiện Dự án 6 về Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các địa phương đã quan tâm chú trọng bảo tồn di sản với phát triển kinh tế và du lịch. Các thiết chế văn hóa Khmer được đầu tư tôn tạo, nâng cấp, xây mới để phục vụ nhu cầu của Nhân dân; một số di tích có nhà trưng bày văn hóa Khmer, bảng chỉ dẫn song ngữ Việt - Khmer, trường dạy tiếng Pali, tiếng Khmer đã góp phần quảng bá giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào đến với người dân cả nước và du khách quốc tế.

Thứ hai, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, công tác kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu và lập hồ sơ khoa học đối với các loại hình di sản văn hóa dân tộc Khmer được các địa phương quan tâm. Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống, lễ hội dân gian, tri thức dân gian và nghề thủ công truyền thống được phục dựng, bảo tồn và đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các địa phương có đông dân tộc Khmer sinh sống tiếp tục duy trì hoạt động của các đội văn nghệ quần chúng, câu lạc bộ nhạc ngũ âm, lớp truyền dạy múa dân gian, nghệ thuật Dù kê, Rô băm và tiếng nói, chữ viết Khmer. Một số địa phương triển khai hiệu quả mô hình truyền dạy văn hóa trong cộng đồng gắn với hệ thống chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Điển hình như thành phố Cần Thơ có hàng trăm đội văn nghệ quần chúng, thường xuyên tổ chức giao lưu văn hóa cộng đồng và hỗ trợ bảo tồn lễ hội truyền thống Khmer. Một số nơi trong thành phố duy trì câu lạc bộ văn nghệ dân gian lớp truyền dạy nhạc ngũ âm và múa dân gian Khmer. Lễ hội Oóc Om Bóc - đua ghe Ngo do thành phố tổ chức trở thành sự kiện văn hóa - du lịch quy mô quốc gia, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách tham gia.

Tỉnh Vĩnh Long có nhiều mô hình truyền dạy tiếng Khmer, nghệ thuật dân gian dân tộc được duy trì thường xuyên. Công tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực văn hóa Khmer được quan tâm triển khai thông qua Trường Đại học Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn, Đại học Trà Vinh - những cơ sở đào tạo trọng điểm về văn hóa truyền thống dân tộc Khmer hiện nay. Trường đã tổ chức đào tạo tiếng Khmer, nghiên cứu văn hóa Khmer, sưu tầm thư tịch cổ, biên soạn giáo trình và hỗ trợ bảo tồn nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer.

Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều hoạt động bảo tồn văn hóa Khmer như: hỗ trợ tổ chức lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, tổ chức giao lưu văn hóa Khmer, kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể; trình diễn nghệ thuật dân gian Khmer, hỗ trợ bảo tồn nhạc cụ, trang phục và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer trong môi trường đô thị đa văn hóa.

Nhiều cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật khu vực Nam Bộ đã tích cực đưa nội dung văn hóa Khmer vào chương trình đào tạo; tổ chức nghiên cứu, biểu diễn và truyền dạy nghệ thuật dân gian Khmer; từng bước hình thành đội ngũ trí thức trẻ Khmer có trình độ chuyên môn, góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc.

Hoạt động kiểm kê, sưu tầm và lập hồ sơ di sản được triển khai rộng khắp. Nhiều loại hình văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer như nghệ thuật Dù kê, nghệ thuật Rô băm, lễ hội Oóc Om Bóc, nghệ thuật trình diễn nhạc Ngũ âm, nghề làm cốm dẹp và nghệ thuật múa dân gian Khmer đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt, lễ hội Oóc Om Bóc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia từ năm 2014, hằng năm thu hút hàng trăm nghìn lượt khách du lịch, trở thành “thương hiệu văn hóa” đặc trưng của Nam Bộ.

Hai nhà bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng (cũ), nay thuộc thành phố Cần Thơ) và Trà Vinh (cũ), nay thuộc tỉnh Vĩnh Long) đã tiến hành sưu tầm, kiểm kê, trưng bày nhiều vật dụng sinh hoạt, công cụ sản xuất đặc trưng, đồ thờ tự, hiện vật tín ngưỡng, tôn giáo gắn với phong tục, lễ hội truyền thống, và các mô hình kiến trúc tái hiện ngôi nhà truyền thống của đồng bào. Hằng năm, các bảo tàng thu hút hàng chục nghìn lượt khách tham quan, trở thành điểm đến văn hóa, du lịch đặc sắc, giúp người dân và du khách hiểu sâu sắc hơn về đời sống tinh thần, phong tục tập quán cũng như giá trị văn hoá của đồng bào Khmer.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương khu vực Tây Nam Bộ 3 năm một lần tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch dân tộc Khmer Nam Bộ, định kỳ luân phiên tại các tỉnh, thành có đồng đồng bào Khmer sinh sống. Tính đến nay, đã tổ chức được 08 lần. Các Ngày hội đã huy động hàng nghìn nghệ nhân, diễn viên, vận động viên quần chúng dân tộc Khmer tham gia trình diễn nghệ thuật Dù kê, Rô băm, nhạc ngũ âm, trình diễn trang phục truyền thống, tái hiện lễ hội dân gian, thi đấu thể thao dân tộc, giới thiệu ẩm thực và nghề thủ công truyền thống.

Bên cạnh đó, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch dân tộc Khmer do các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long (cũ), Liên hoan nghệ thuật quần chúng và hội thi trình diễn trang phục dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh (cũ) được tổ chức hằng năm đã góp phần phục dựng, bảo tồn nhiều loại hình văn hóa truyền thống, tăng cường giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh văn hóa Khmer tới đông đảo công chúng.

Các nghề thủ công truyền thống như: dệt chiếu, đan lát, làm đầu lân, điêu khắc gỗ… được chính quyền các địa phương quan tâm bảo tồn và phát huy theo hướng gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Nhiều làng nghề dệt chiếu còn trở thành điểm đến tham quan, trải nghiệm cho du khách, giúp quảng bá sản phẩm ra thị trường rộng hơn. Tại thành phố Cần Thơ, các nhóm nghệ nhân làm đầu lân truyền thống được hỗ trợ tham gia lễ hội Oóc Om Bóc, đua ghe ngo, vừa tạo không khí lễ hội đặc sắc, vừa lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào. Một số nghệ nhân điêu khắc gỗ và đan lát ở An Giang cũng được hỗ trợ lập nhóm trình diễn tại các sự kiện văn hóa, du lịch trong vùng.

Ẩm thực của đồng bào Khmer, vốn được coi là một loại hình văn hóa phi vật thể đặc sắc cũng được các địa phương trong vùng bảo tồn và phát huy. Nhiều món ăn truyền thống như bún nước lèo, bánh pía, cốm dẹp, lẩu mắm,… được quảng bá rộng rãi trong các liên hoan ẩm thực, trở thành sản phẩm du lịch văn hóa tại Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang. Đặc biệt, tại các mùa Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ do Thành phố Cần Thơ tổ chức đã 13 năm nay, những món bánh ngon của đồng bào Khmer như: Cốm dẹp, nùm-bon (bánh gạo), bánh gừng, bánh ống lá dứa… được giới thiệu, tái hiện cách làm như một di sản quý.

Công tác dạy và học chữ Khmer được quan tâm, tạo điều kiện cả trong hệ thống giáo dục công lập và tại các chùa. Các tỉnh thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng giáo viên các kỹ năng, phương pháp sư phạm dạy tiếng Khmer. Một số tỉnh quy định chính sách đặc thù hỗ trợ mua sách giáo khoa, hỗ trợ người dạy tiếng và chữ Khmer trong dịp hè, đã tạo động lực để giáo viên, các nhà sư cống hiến góp phần duy trì tiếng nói, chữ viết của đồng bào.

Hệ thống kinh lá buông là di sản chữ viết Khmer cổ đang được bảo tồn tích cực. Các chùa Phật giáo Nam tông Khmer là nơi đang lưu giữ, bảo tồn những “bảo vật” này. Năm 2017, “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer” đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Giai đoạn 2028-2030, tỉnh An Giang sẽ xây dựng hồ sơ đăng ký công nhận di sản “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer tỉnh An Giang” thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO, minh chứng rõ nét cho nỗ lực đưa các giá trị văn hóa của đồng bào vươn tầm quốc tế.

3. Kết luận

Văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ là bộ phận đặc sắc, giàu giá trị trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và chuyển đổi số hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer không chỉ là nhiệm vụ văn hóa đơn thuần mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa trong phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước; sự vào cuộc của các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương cùng vai trò chủ thể của dân tộc Khmer và đội ngũ trí thức, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Khmer Nam Bộ sẽ tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế .

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Kỷ yếu Hội nghị Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 về tăng cường công tác ở vùng đồng bào Khmer trong tình hình mới.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/ TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

4. Vũ Thị Cúc (2025), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”.