Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tiếp tục giải bài toán nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hoàng Thu - 09:22, 23/09/2026

(DTTG) - Bảo đảm nước sinh hoạt hợp vệ sinh là một trong những điều kiện nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe và giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Những năm qua, nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo chuyển biến rõ rệt, đưa tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 94,84%. Tuy nhiên, phía trước vẫn còn khoảng cách cần thu hẹp, nhất là tại những địa bàn khan hiếm nguồn nước, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.

Trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Phú Thọ được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Phú Thọ được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, bảo đảm nước sinh hoạt càng có ý nghĩa đặc biệt. Điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, nguồn nước không ổn định, nhiều khu vực khan hiếm nước, thường xuyên chịu tác động của hạn hán, lũ quét, sạt lở, ô nhiễm nguồn nước khiến việc bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân ở đây luôn khó khăn hơn nhiều so với các khu vực khác.

Thực tế cho thấy, thiếu nước sạch liên quan trực tiếp đến vấn đề sức khỏe, vệ sinh môi trường, giáo dục, sinh kế và chất lượng nguồn nhân lực. Theo các số liệu được Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế công bố từ năm 2020, mỗi năm có khoảng 9.000 người tử vong liên quan đến nguồn nước và vệ sinh kém; gần 250.000 người phải nhập viện vì tiêu chảy cấp có liên quan đến nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng được xác định là một trong những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng.

Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới về tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam từng chỉ ra tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn cao, trong đó thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh kém là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Thực trạng này là thách thức rất lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống của người dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Như vậy, giải quyết vấn đề tiếp cận nước sinh hoạt cho người dân tộc thiểu số thực chất là đầu tư trực tiếp cho chăm sóc sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực.

Người dân thôn Nà Vài, xã Bằng Thành, tỉnh Thái Nguyên sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh được kéo về tận nhà
Người dân thôn Nà Vài, xã Bằng Thành, tỉnh Thái Nguyên sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh được kéo về tận nhà

Khi xây dựng dự thảo Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2019, báo cáo của 42 tỉnh thuộc vùng DTTS và miền núi và vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cho thấy cả nước lúc đó còn 370.152 hộ gia đình người dân tộc thiểu số chưa được sử dụng nước hợp vệ sinh. Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số lần thứ II năm 2019, vẫn còn 11 nhóm dân tộc thiểu số có từ 30 - 50% số hộ chưa được sử dụng nước hợp vệ sinh hằng ngày. Đây là một trong những điểm nghẽn về dịch vụ xã hội cơ bản mà chính sách dân tộc phải tập trung giải quyết.

Giai đoạn 2021-2025, nguồn lực từ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo ra bước chuyển đáng kể. Toàn vùng có 479.358 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và 809 công trình nước sinh hoạt tập trung được đầu tư xây dựng, góp phần đưa tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 94,84%, tăng 6,24% so với năm 2019; 33/53 DTTS có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh từ 90% trở lên. Khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn về tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh cũng được thu hẹp. Đáng chú ý là tỷ lệ hộ nông thôn được sử dụng nước sạch đạt khoảng 60%. Các chương trình đã hỗ trợ hơn 285.000 đấu nối nước sạch, trong đó gần ½ là hộ DTTS ghi nhận sự cải thiện tích cực về tiếp cận nước sạch cho đồng bào DTTS, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Đây là kết quả rất có ý nghĩa, cho thấy sự đầu tư có trọng tâm từ Chương trình MTQG và các dự án, chính sách dân tộc đã trực tiếp cải thiện một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Tuy nhiên, tỷ lệ 94,84% người DTTS được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh đồng nghĩa với việc vẫn còn 5,16% đồng bào DTTS chưa được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh, thậm chí còn có vùng trắng về tiếp cận nước sạch đạt tiêu chuẩn Việt Nam như ở xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.

Trong bối cảnh đó, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026-2030, được phê duyệt tại Quyết định 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Chương trình MTQG 417), tiếp tục đặt vùng đồng bào DTTS và miền núi ở vị trí ưu tiên trong đầu tư phát triển và thu hẹp khoảng cách về mức sống, dịch vụ xã hội cơ bản. 

Người Si La ở Điện Biên được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh (Ảnh Phương Liên)
Người Si La ở Điện Biên được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh (Ảnh Phương Liên)

Đối với vấn đề nước sinh hoạt, định hướng của Chương trình là phát triển các công trình cấp nước sạch tập trung tại xã hoặc liên xã phù hợp với đặc thù từng vùng; ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, vùng khan hiếm và khó khăn về nguồn nước, những nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước. Đồng thời, Chương trình hỗ trợ cấp nước hộ gia đình cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và những hộ ở khu vực khó tiếp cận hệ thống cấp nước tập trung. Mục tiêu đến năm 2030 là 100% đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 20% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.

Để đạt mục tiêu này, trước hết các địa phương cần rà soát chính xác những địa bàn, nhóm hộ còn thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhất là những hộ sinh sống tại vùng núi cao, dân cư sống phân tán, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu dựa vào nước mưa. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, việc đầu tư phải tập trung vào những “điểm lõi” còn khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Các bộ, ngành địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn vốn từ Chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2030 để chủ động triển khai thực hiện với nhu cầu đầu tư công trình cấp nước. 

Người Raglay ở thôn Cầu Gỗ, xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa được hỗ trợ nước sinh hoạt về tận nhà (Ảnh: Phương Liên)
Người Raglay ở thôn Cầu Gỗ, xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa được hỗ trợ nước sinh hoạt về tận nhà (Ảnh: Phương Liên)

Đối với vùng dân cư tập trung, cần ưu tiên các công trình cấp nước tập trung có quy mô xã hoặc liên xã, gắn với nguồn nước ổn định, công nghệ phù hợp và phương án quản lý vận hành rõ ràng. Với vùng núi cao, dân cư phân tán, địa hình phức tạp, việc hỗ trợ công trình cấp nước quy mô hộ gia đình, hỗ trợ bể chứa, cấp phát téc chứa nước, dây dẫn, hệ thống thu và trữ nước mưa, hệ thống tự chảy, hồ chứa nước vải địa kỹ thuật đối với vùng núi đá vôi khan hiếm nguồn nước ngầm… là các giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình và nhu cầu thực tế của từng địa phương, nhằm từng bước nâng cao tỷ lệ người dân được tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, ổn định và bền vững.

Hiện nay, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang đề xuất lộ trình trong năm 2026, chậm nhất là quý II/2027 sẽ tạo ra phong trào và chuyển biến giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sạch ở địa bàn vùng biên giới, vùng đồng bào DTTS và miền núi trên cả nước. Điều đó cho thấy nước sinh hoạt đang được đặt vào nhóm vấn đề cần tập trung giải quyết sớm, quyết liệt và có trọng điểm, góp phần phát triển bền vững và trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào vùng DTTS và miền núi.