Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào bằng những việc làm cụ thể

Duy Nguyễn - 11:39, 19/10/2026

(DTTG) - Tìm hiểu cuộc sống của đồng bào tại Buôn Đôn không chỉ giúp 20 cán bộ Lào tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo của Việt Nam, đồng thời còn mở ra những góc nhìn sinh động về sức mạnh của lòng dân, vai trò của cộng đồng và giá trị văn hóa trong phát triển bền vững. Từ một địa bàn biên giới đa dân tộc, những kinh nghiệm được chia sẻ góp phần làm sâu sắc hơn sự hiểu biết, tin cậy và hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Lào.


Quang cảnh Hội nghị
Quang cảnh Hội nghị

Vừa qua (ngày 15/10), đoàn 20 học viên lớp bồi dưỡng cán bộ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã có buổi gặp mặt, trao đổi kinh nghiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc và tôn giáo tại xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk). Tham dự chương trình có Tiến sĩ Lê Phú Thắng, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang (Bộ Dân tộc và Tôn giáo). Đây không chỉ là một hoạt động học tập thực tế, cuộc gặp còn cho thấy ý nghĩa của việc đưa kiến thức quản lý đến gần đời sống, để những chủ trương, chính sách được nhìn nhận qua điều kiện cụ thể của từng cộng đồng.

Tiến sĩ Lê Phú Thắng, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang làm trưởng đoàn công tác gặp mặt tại xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk)
Tiến sĩ Lê Phú Thắng, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang cùng lãnh đạo địa phương chủ trì Hội nghị gặp mặt

Buôn Đôn là địa bàn có đặc điểm dân cư và văn hóa đa dạng. Xã có 45,542 km đường biên giới tiếp giáp tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia, gồm 8 thôn, buôn với 15 dân tộc cùng sinh sống; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 75,38% dân số. Đặc biệt, địa phương có 229 người dân tộc Lào. Những con số ấy phản ánh một không gian cộng đồng đa dạng về nguồn gốc, phong tục và tập quán, nơi công tác quản lý nhà nước đòi hỏi sự kết hợp giữa nguyên tắc thống nhất của pháp luật với cách tiếp cận linh hoạt, tôn trọng đặc điểm văn hóa và nhu cầu chính đáng của từng nhóm dân cư.

Tại buổi làm việc, đoàn học viên lớp bồi dưỡng cán bộ Lào được giới thiệu về tình hình dân tộc, đời sống nhân dân và kết quả triển khai chính sách trên địa bàn. Thông qua trao đổi trực tiếp, những vấn đề vốn được tiếp cận trong chương trình bồi dưỡng lý thuyết trở nên cụ thể hơn: làm thế nào để chính sách đến đúng đối tượng; làm thế nào để người dân hiểu, tin tưởng và chủ động tham gia; làm thế nào để phát triển kinh tế đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố đoàn kết và bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở.

Thực tiễn xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) cho thấy, chính sách dân tộc chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi gắn đầu tư phát triển với việc nâng cao năng lực tự vươn lên của cộng đồng. Những năm qua, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, địa phương đã triển khai các hoạt động đầu tư hạ tầng, hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt và sinh kế. Những hỗ trợ ấy góp phần cải thiện điều kiện sống, tạo cơ hội để người dân phát triển sản xuất và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo còn cao cho thấy giảm nghèo bền vững vẫn là nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi các giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường và đặc điểm của từng nhóm hộ.

Từ thực tế đó, một bài học có ý nghĩa đối với công tác quản lý là không thể chỉ đo hiệu quả chính sách bằng số công trình được xây dựng hay số hộ được hỗ trợ. Điều đặc biệt hơn là những nguồn lực ấy có tạo ra sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập và mở rộng cơ hội phát triển cho người dân hay không. Muốn vậy, chính quyền cần lắng nghe cộng đồng ngay từ khâu xác định nhu cầu, công khai tiêu chí hỗ trợ, tổ chức thực hiện minh bạch và duy trì cơ chế giám sát phù hợp. Người dân phải được xem là chủ thể tham gia quá trình phát triển, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách.

Người Lào ở xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) thực hiện nghi thức buộc chỉ cổ tay cho các thành viên trong đoàn công tác
Người Lào ở xã Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) thực hiện nghi thức buộc chỉ cổ tay cho các thành viên trong đoàn công tác

Trong quá trình phát triển, Người có uy tín và ban tự quản thôn, buôn giữ vai trò quan trọng. Bằng sự am hiểu phong tục, tiếng nói gần gũi và niềm tin được cộng đồng trao gửi, họ góp phần truyền tải chủ trương, chính sách, pháp luật; vận động đồng bào phát triển sản xuất, gìn giữ văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh và tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Đây cũng là kênh để chính quyền nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, phát hiện sớm những vấn đề phát sinh và giải quyết từ cơ sở. 

Một điểm nhấn quan trọng của chương trình là hoạt động tham quan mô hình du lịch cộng đồng của người Lào tại Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk). Đây là cơ hội để đoàn học viên cán bộ Lào tìm hiểu cách gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế. Văn hóa, nếu được bảo tồn bằng sự chủ động của cộng đồng và kết nối với nhu cầu du lịch phù hợp, không chỉ là di sản tinh thần mà còn có thể trở thành nguồn lực kinh tế. Tuy nhiên, phát triển du lịch cộng đồng cần bảo đảm người dân thực sự được hưởng lợi, giữ gìn tính chân thực của văn hóa và tránh thương mại hóa những giá trị truyền thống. Bài học này có ý nghĩa rộng hơn đối với các địa phương đa dân tộc, như: bảo tồn và phát triển không phải hai mục tiêu đối lập, mà cần được tổ chức hài hòa trên nền tảng tôn trọng cộng đồng.

Đối với các học viên Lào, chuyến tìm hiểu tại Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) đem lại cơ hội quan sát trực tiếp cách Việt Nam tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trong điều kiện cụ thể của một địa bàn đa dân tộc. Những kinh nghiệm được trao đổi có thể là nguồn tham khảo thiết thực cho công tác chuyên môn, đồng thời mở rộng đối thoại về những vấn đề hai nước cùng quan tâm như phát triển vùng khó khăn, bảo tồn văn hóa, giảm nghèo và phát huy vai trò cộng đồng. Việc vận dụng những kinh nghiệm ấy cần dựa trên điều kiện, thể chế và đặc điểm xã hội của mỗi nước; giá trị của hợp tác nằm ở khả năng học hỏi lẫn nhau, không phải sao chép máy móc một mô hình.

Quan hệ Việt Nam - Lào được vun đắp bằng lịch sử gắn bó, sự tin cậy chính trị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Những chương trình trao đổi cán bộ, học tập thực tiễn như tại Buôn Đôn (tỉnh Đắk Lắk) góp phần làm cho mối quan hệ ấy trở nên gần gũi, cụ thể hơn, bắt đầu từ sự hiểu biết về con người, văn hóa và cách giải quyết những vấn đề của đời sống. Từ một buổi gặp mặt ở cơ sở, bài học được mở rộng thành thông điệp có ý nghĩa lâu dài, đó là: chính sách chỉ thật sự có sức sống khi bắt nguồn từ thực tiễn và hướng tới con người; hợp tác chỉ bền vững khi được xây dựng trên sự tôn trọng, chia sẻ và cùng phát triển. Đó cũng là cách thiết thực để tiếp tục bồi đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào bằng những kết quả cụ thể trong đời sống nhân dân./.