Chuẩn bị lễ vật cúng bến nước Mỗi năm, sau mùa rẫy hoặc trước vụ sản xuất mới, già làng cùng dân bản lại tổ chức lễ cúng bến nước. Trước ngày diễn ra nghi lễ, thanh niên trong làng dọn dẹp lối đi, phát quang bụi rậm, sửa lại máng tre dẫn nước. Phụ nữ chuẩn bị lễ vật gồm con gà, ché rượu cần, nếp mới. Già làng đứng bên dòng suối, cất lời khấn Giàng phù hộ cho nước không bao giờ cạn, cho mùa màng tươi tốt, cho dân làng khỏe mạnh, hòa cùng tiếng suối róc rách tạo nên một cảm giác thiêng liêng, trầm mặc.
Theo PGS.TS. Bùi Văn Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên chia sẻ: Nghi lễ cúng bến nước của người Cơ-tu không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, mà còn hàm chứa triết lý sống sâu sắc. “Ở đây, nước được thần thánh hóa. Khi coi bến nước là nơi linh thiêng, người dân tự giác giữ gìn môi trường, không xả rác, không làm ô uế dòng suối. Đó là cách cộng đồng bảo tồn tài nguyên theo phương thức truyền thống nhưng rất hiệu quả”.
Quả thực, từ bao đời nay, bến nước của người Cơ-tu luôn trong lành. Không ai chặt phá cây rừng quanh khu vực bến nước, không ai tùy tiện xâm phạm chốn trú ngụ của thần linh. Chính niềm tin ấy đã tạo nên “luật tục” bảo vệ nguồn nước, yếu tố sống còn với đời sống sinh hoạt và sản xuất nương rẫy. Nước đầy thì lúa tốt, hoa màu phát triển, gia súc sinh sôi. Nước cạn hay ô nhiễm đồng nghĩa với khó khăn bủa vây.
TS. Nguyễn Thị Phương Anh, Trường Đại học Tây Nguyên cho rằng giá trị lớn nhất của nghi lễ nằm ở sự gắn kết cộng đồng. “Lễ cúng bến nước là dịp để mọi thành viên từ già làng, thanh niên đến trẻ nhỏ trong làng cùng tham gia. Phần lễ trang nghiêm, phần hội rộn ràng với tiếng cồng chiêng, điệu múa truyền thống đã củng cố bản sắc văn hóa và tăng cường tinh thần đoàn kết. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững”.
Sau phần lễ là phần hội. Tiếng cồng chiêng vang vọng giữa núi rừng, điệu múa tung tung da dá uyển chuyển quanh nhà Gươl. Rượu cần truyền tay, câu chuyện mùa rẫy, chuyện con cháu học hành, chuyện làm ăn được nhắc tới trong tiếng cười ấm áp. Trong không gian ấy, truyền thống được trao truyền, niềm tin được củng cố và khát vọng ấm no được nuôi dưỡng. Già làng C’lâu Nhím ở một xã miền núi thành phố Đà Nẵng chia sẻ: “Cúng bến nước không chỉ để cầu thần linh, mà còn nhắc con cháu phải biết quý nước, quý rừng. Có nước sạch thì dân làng mới khỏe, mới làm rẫy tốt, mới nuôi được con cái ăn học. Bến nước còn, làng còn”. Lời nói mộc mạc ấy phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa nghi lễ và đời sống thực tế của người Cơ-tu.
Giữa nhịp sống hiện đại, nghi lễ cúng bến nước vẫn được duy trì như một “mạch ngầm” văn hóa. Đó là biểu tượng của niềm tin, của sự tri ân thiên nhiên và của tinh thần đoàn kết cộng đồng. Khi bến nước được gìn giữ, nguồn sống được bảo đảm; Khi nghi lễ được trao truyền, bản sắc được bảo tồn; Khi cộng đồng cùng chung tay, cuộc sống ấm no sẽ bền vững hơn.
Cúng bến nước - nghi lễ thiêng của người Cơ-tu, vì thế không chỉ là nét đẹp văn hóa, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm với thiên nhiên và với chính tương lai của mình. Giữa đại ngàn, mạch nước vẫn chảy, như mạch nguồn văn hóa đang tiếp nối qua bao thế hệ, nuôi dưỡng niềm tin và khát vọng ấm no của người Cơ-tu hôm nay và mai sau./.