Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp là giải pháp để nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Ninh (Ảnh: Phương Liên)Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh gồm 30 xã và 9 thôn, chiếm khoảng 58% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; là nơi sinh sống của hơn 274 nghìn đồng bào dân tộc thiểu số, thuộc 42 thành phần dân tộc.
Địa hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh chủ yếu là đồi núi, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh, dân cư phân bố không đồng đều. Đặc điểm tự nhiên phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vùng. Hiện nay, tỉnh có 19 xã đặc biệt khó khăn, là nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 4,7 lần mức bình quân chung của tỉnh. Thu nhập bình quân đầu người tại nhiều xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ bằng khoảng 40 - 50% mức trung bình của toàn tỉnh. Giai đoạn 2026-2030, áp dụng chuẩn nghèo đa chiều mới, tỷ lệ nghèo đa chiều ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dự kiến còn khoảng 11%, riêng các xã đặc biệt khó khăn khoảng 20%.
Đáng chú ý là những năm qua, mặc dù được quan tâm đầu tư nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Bắc Ninh vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện qua những con số như: khoảng 800 km đường trục thôn, ngõ xóm chưa được cứng hóa; trên 56% chiều dài kênh mương nội đồng chưa được kiên cố hóa; hàng trăm hồ chứa, công trình thủy lợi đã xuống cấp cần được sửa chữa, nâng cấp; 29/30 xã chưa đạt tiêu chí quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung mới đạt khoảng 8,67%...
Trước thực trạng chậm phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Chương trình số 22-CT/TU ngày 28/3/2026 về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh vừa khẩn trương ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình số 22-CT/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Theo Kế hoạch, tỉnh Bắc Ninh sẽ tập trung xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, ưu tiên nguồn vốn ngân sách tỉnh, nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn đối ứng ngân sách tỉnh cho các chương trình, vốn đầu tư công ngân sách xã để thực hiện giải quyết dứt điểm, kịp thời những vấn đề cấp thiết, quan trọng trên địa bàn các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như: Đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng thiết yếu, trọng tâm là hạ tầng giao thông liên vùng, liên xã, liên thôn; xây dựng các công trình phòng tránh thiên tai như ngầm tràn, cầu, đường tránh lũ; cứng hóa, nâng cấp các tuyến đường phục vụ sản xuất, kết nối vùng nguyên liệu và các điểm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; các công trình phòng chống sạt lở; quy hoạch sắp xếp, di dời các hộ dân đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở; công trình thuỷ lợi; công trình điện sinh hoạt, điện sản xuất; đầu tư cải tạo, nâng cấp trạm y tế xã đạt chuẩn, các công trình văn hóa, thể thao; đầu tư cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, xây dựng mới 3 các trường, lớp học và các công trình phụ trợ theo hướng đồng bộ, hiện đại để các trường đạt chuẩn mức độ 1 và 2 theo lộ trình; đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình nước sạch tập trung.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng tập trung đầu tư 97 công trình thuộc hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại 19 xã đặc biệt khó khăn, đảm bảo tính đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển, gồm: 45 công trình trường học; 02 công trình nước sạch; 11 công trình y tế; 36 công trình giao thông; 2 công trình thủy lợi; 01 công trình chống sạt lở.
Tỉnh cũng sẽ thực hiện lồng ghép, ưu tiên nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ngân sách tỉnh, vốn đối ứng ngân sách tỉnh, vốn ngân sách xã, nguồn vốn vay, nguồn vốn xã hội hóa để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Đồng thời thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Lục Sơn được sử dụng nước sạch.Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh giao Sở Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu, đề xuất, tổng hợp chung Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2035. Trực tiếp chủ trì, triển khai, thực hiện Hợp phần thứ hai của Chương trình Mục tiêu quốc gia, tham mưu, đề xuất, theo dõi, tổng hợp báo cáo, đánh giá, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Hợp phần thứ hai của Chương trình Mục tiêu quốc gia.
Tổng nguồn vốn dự kiến đầu tư thực hiện trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh khoảng 25.000 tỷ đồng. Trong đó nguồn vốn ngân sách tỉnh 4.000 tỷ đồng để thực hiện đầu tư các dự án, công trình trọng điểm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội 19 xã đặc biệt khó khăn; nguồn vốn ngân sách Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn đối ứng ngân sách tỉnh, ngân sách xã, nguồn vốn lồng nghép thực hiện các chương trình, dự án, chính sách trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 13.000 tỷ đồng; nguồn vốn xã hội hóa, vốn vay từ ngân hàng chính sách và Nhân dân đóng góp khoảng trên 8.000 tỷ đồng.
Với việc xác định đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, nguồn lực lớn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh đang có cơ hội phát triển bền vững, toàn diện, sớm thu hẹp khoảng cách với vùng khác trong tỉnh.