Hiện nay, công tác bảo tồn văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ, thống nhất và ổn định để hỗ trợ trực tiếp, thường xuyên đối với các cá nhân, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số. Để thiết lập cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, việc ban hành Nghị định quy định về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số là cần thiết.
Cần có cơ sở pháp lý thống nhất nhằm tập trung nguồn lực ưu tiên phục hồi, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một Nghị định được xây dựng nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; quy định chi tiết khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam. Đồng thời, thiết lập cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; xác định cơ chế rà soát, nhận diện, phân loại và ưu tiên bảo tồn đối với các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
Dự thảo Nghị định quy định chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận; cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và khoán chi phù hợp với đặc thù hoạt động văn hóa cộng đồng; Gắn bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển du lịch cộng đồng, sinh kế bền vững và chuyển đổi số; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong lưu trữ, số hóa, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số...
Dự thảo Nghị định nêu rõ các chính sách của Nhà nước về phục hồi, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số như:
Bảo đảm nguồn lực từ ngân sách nhà nước trong kế hoạch tài chính, đầu tư công trung hạn và dự toán ngân sách hằng năm để thực hiện các nhiệm vụ phục hồi, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và đầu tư công.
Ưu tiên thực hiện chính sách phục hồi, bảo tồn đối với các trường hợp: Giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; văn hóa truyền thống của các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nhằm duy trì hoạt động phục hồi, thực hành, trao truyền và tham gia quảng bá giá trị văn hóa truyền thống.
Thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, khoán chi theo kết quả đối với các hoạt động phục hồi, bảo tồn, duy trì và phát triển văn hóa truyền thống theo quy định của pháp luật, bao gồm: trao truyền, thực hành văn hóa truyền thống; phục hồi giá trị văn hóa truyền thống; phát triển sản phẩm văn hóa truyền thống, du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững; các hoạt động khác theo quy định của Nghị định này.
Hỗ trợ phục hồi, bảo tồn và phát triển không gian văn hóa truyền thống gắn với hạ tầng và môi trường sinh thái phục vụ đời sống văn hóa cộng đồng; hỗ trợ phục hồi, bảo tồn làng, bản, buôn, phum, sóc văn hóa truyền thống; hỗ trợ tỉnh, thành phố đầu tư xây dựng không gian văn hóa bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống tiêu biểu gắn với phát triển du lịch.
Hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa tư liệu và quảng bá văn hóa truyền thống trên nền tảng số.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; bảo đảm việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Thực hiện chính sách tôn vinh, khen thưởng đối với tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp trong phục hồi, bảo tồn, duy trì và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
Dự thảo Nghị định được xây dựng trên quan điểm là xác định trúng, đúng các chính sách mang tính then chốt tầm luật để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá về nguồn lực, tập trung vào chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận, cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và khoán chi phù hợp với đặc thù hoạt động văn hóa cộng đồng. Lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm của hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa. Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống với phát huy giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội. Ưu tiên bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và có khó khăn đặc thù; địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Bảo đảm phù hợp với thực tiễn, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Ý kiến của Nhân dân sẽ được ghi nhận và làm cơ sở để Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chọn lọc tiếp thu, điều chỉnh, hoàn thiện dự thảo trình Chính phủ phê duyệt, ban hành.