Phát triển cây dược liệu là một trong những giải pháp giúp đồng bào dân tộc thiểu số giảm nghèo bền vững1. Chuẩn nghèo đa chiều và thực trạng nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Trước năm 2016, Việt Nam áp dụng đo lường nghèo dựa trên thu nhập. Phương pháp này không nắm bắt được các khía cạnh phi tiền tệ đóng vai trò quan trọng đối với phúc lợi của người dân.
Giai đoạn 2016-2020, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo quyền an sinh xã hội của người nghèo, Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là một trong những quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Tiêu chí nghèo đa chiều không chỉ xem xét ở góc độ đảm bảo thu nhập tối thiểu mà còn ở mức độ tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin.
Giai đoạn 2021-2025, tiêu chí nghèo đa chiều của Việt Nam còn được nâng lên so với giai đoạn 2016-2020. Chuẩn nghèo được tính sát với mức sống tối thiểu, điều mà trước đây nước ta chưa làm được do hạn sung nhằm nhận diện được bản chất của nghèo đói như: chỉ số dinh dưỡng, tình trạng đi học của trẻ em, trình độ giáo dục của người lớn, đồng thời bổ sung các chỉ số đo lường thiếu hụt về việc làm của người nghèo. Việc làm được coi là một kết quả, một phương tiện công vụ để đạt được các kết quả khác trong khái niệm đa chiều, phản ánh thu nhập và điều kiện bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân; là cơ sở để phân loại đối tượng hộ nghèo để có các giải pháp tác động phù hợp, thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo có điều kiện, có thời gian.
Những thay đổi này phù hợp với Việt Nam, một quốc gia có thu nhập trung bình thấp đang phấn đấu đạt được thu nhập trung bình cao trong trung hạn. Chuẩn nghèo cao hơn và chuẩn nghèo đa chiều khắt khe hơn cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc cải thiện mức sống cho tất cả mọi người và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Trong xu hướng chung của đất nước, công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi luôn được các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị nỗ lực cao độ để giải quyết. Bởi so với cả nước, tình trạng nghèo của người DTTS trước khi bước vào giai đoạn 2021-2025 là thách thức lớn, với gần 741 nghìn hộ nghèo người DTTS, chiếm trên 63% tổng số hộ nghèo cả nước; tập trung cao ở vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên). Một số tỉnh có tỷ trọng hộ nghèo DTTS/tổng số hộ nghèo cao trên 80% như: Cao Bằng (99,5%), Hà Giang (cũ) (99,3%), Lai Châu (98,7%), Điện Biên (98,6%), Kon Tum (92,6%), Gia Lai (86,5%)… Nhiều nhóm DTTS có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 40% (cao gấp gần 8 lần so với bình quân chung của cả nước), như: La Hủ, Mảng, Chứt, Ơ-Đu, Co, Khơ-mú, Xinh Mun, La Ha, Kháng, Mông, Xơ-Đăng.
Trước yêu cầu đổi mới chính sách dân tộc theo hướng tổng thể, tích hợp và bền vững, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 (Chương trình). Đây là lần đầu tiên Việt Nam triển khai một Chương trình MTQG riêng cho vùng đồng bào DTTS&MN với quy mô lớn, phạm vi toàn diện và cách tiếp cận đa ngành, hướng tới mục tiêu giảm nghèo đa chiều, nâng cao năng lực phát triển cho địa bàn đặc biệt khó khăn vùng DTTS&MN, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Canh tác lúa Nếp Tài theo hướng hữu cơ ở Thái Nguyên2. Một số kết quả giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025
Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025 với nguồn lực đầu tư lớn là giải pháp đột phá của Đảng, Nhà nước, là quyết sách quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương, định hướng của Bộ Chính trị tại Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới, Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030. Kết quả đạt được của Chương trình giai đoạn I đã góp phần giảm đáng kể các chiều thiếu hụt trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, một nội dung cốt lõi của giảm nghèo đa chiều.
Trong lĩnh vực giáo dục: Chương trình đã cải tạo, sửa chữa 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại (như ti vi thông minh, máy tính xách tay) đối với 1.032 trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT), trường phổ thông có học sinh ở bán trú. 4.752 lớp học xoá mù chữ, với 95.033 người dân tham gia được tổ chức. 843 sinh viên được hỗ trợ học đại học; 315 học viên được hỗ trợ đào tạo thạc sỹ; 18 nghiên cứu sinh được hỗ trợ đào tạo tiến sỹ…
Với các kết quả này, Chương trình đang tác động trực tiếp tới “năng lực phát triển con người” - yếu tố cốt lõi của giảm nghèo đa chiều và giảm nghèo bền vững. Việc cải tạo trường lớp, đầu tư thiết bị dạy học hiện đại cho các trường PTDTNT, PTDTBT không chỉ giúp nâng cao điều kiện học tập mà còn từng bước thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa học sinh vùng DTTS với khu vực phát triển hơn. Các lớp xóa mù chữ giúp đồng bào biết đọc, biết viết, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ và cơ hội sinh kế, từ đó tăng khả năng tự chủ trong phát triển kinh tế và đời sống.
Việc hỗ trợ đào tạo sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh người DTTS cho thấy Chương trình không chỉ hướng tới mục tiêu giảm nghèo trước mắt mà còn chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng DTTS&MN. Đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược bởi về lâu dài, giảm nghèo bền vững không thể tách rời việc hình thành đội ngũ trí thức, cán bộ và nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ chuyên môn cao.
Trong lĩnh vực y tế: Chương trình hỗ trợ cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; Đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị thiết yếu cho 52 trung tâm y tế huyện; tuyển dụng 114 bác sĩ chuyên khoa I làm việc tại các cơ sở y tế thuộc các huyện nghèo, khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN; 471 trạm y tế xã được đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, cấp chứng nhận chuyển giao kỹ thuật; hỗ trợ phụ cấp cho 756 lượt cô đỡ thôn bản; tổ chức 3.125 lớp đào tạo/ tập huấn về bệnh Thalassemia cho cán bộ y tế các cấp; tổ chức 1.517 lớp tập huấn tăng cường kiến thức, năng lực chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng bà mẹ - trẻ em nhằm giảm tử vong bà mẹ, tử vong trẻ em, nâng cao tầm vóc, thể lực người DTTS; triển khai 3.885.902 gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế được cung cấp; triển khai 137.596 mô hình tuyên truyền vận động, truyền thông thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em...
Đối với các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù, Chương trình đã tổ chức khám, quản lý thai nghén và chăm sóc y tế, tầm soát các loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến cho 2.199 phụ nữ mang thai; hỗ trợ đảm bảo bữa ăn dinh dưỡng công thức (cơm/cháo dinh dưỡng công thức ăn liền) cân đối hợp lý và sữa học đường cho 2.423 trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập…
Các nội dung, hoạt động trong lĩnh vực y tế đã góp phần cải thiện sức khỏe của người DTTS về thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và hỗ trợ tăng cường công tác y tế cơ sở để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Người dân vùng đồng bào DTTS&MN được tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại địa phương. Tuyến cơ sở được phát triển các kỹ thuật cao, chuyên sâu, thực hiện quản lý và điều trị một số bệnh không lây nhiễm (tăng huyết áp, đái tháo đường, hen phế quản...) giúp giảm thời gian đi lại, chi phí điều trị cho người dân và giảm tải áp lực chuyển tuyến cho các cơ sở y tế tuyến trên.
Trong lĩnh vực nhà ở, Chương trình đã hỗ trợ nhà ở cho 42.567 hộ; cho vay hỗ trợ nhà ở với dư nợ 809,891 tỷ đồng, góp phần vào kết quả thực hiện Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước, nhất là tại địa bàn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DTTS&MN. Việc cải thiện điều kiện cư trú giúp người dân ổn định cuộc sống, giảm rủi ro thiên tai, có điều kiện tập trung phát triển kinh tế. Ở nhiều địa phương, hỗ trợ nhà ở được triển khai theo hướng tôn trọng đặc trưng văn hóa của từng dân tộc. Nhiều mô hình nhà ở kết hợp giữa kiến trúc truyền thống và yêu cầu an toàn, vệ sinh hiện đại đã góp phần nâng cao chất lượng sống cho đồng bào.
Trong lĩnh vực nước sinh hoạt, Chương trình đã hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ; đầu tư xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung, góp phần giảm tình trạng thiếu nước sạch tại nhiều địa bàn vùng cao, vùng khan hiếm nguồn nước. Việc cải thiện khả năng tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng, giảm nguy cơ bệnh tật, cải thiện chất lượng sống của người dân.
Trong lĩnh vực thông tin: Đã có 60 dự án công nghệ thông tin được phê duyệt, triển khai thực hiện; tổ chức 81 hội nghị, hội thảo về chuyển đổi số; xây dựng 933 điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự; tổ chức 248 lớp tập huấn, hướng dẫn quản lý sử dụng thiết bị, duy trì, vận hành điểm ứng dụng công nghệ thông tin với 6.060 lượt người tham gia. Việc hỗ trợ thiết lập các điểm công nghệ thông tin tại xã giúp người dân dễ dàng tiếp cận tri thức, dịch vụ công, thông tin cảnh báo về an ninh - trật tự, cơ hội thị trường, gia tăng tiếp cận hội nhập số cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN.
Trong lĩnh vực việc làm: Chương trình đã hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc cho 115.575 người lao động; Triển khai 403 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị. Số hộ DTTS tham gia vào chuỗi giá trị đạt 13.596 hộ. Đã triển khai 2.562 dự án phát triển sản xuất cộng đồng thu hút được 20.453 hộ tham gia. 12 mô hình khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh được xây dựng tại vùng đồng bào DTTS&MN. Hỗ trợ 383 dự án, mô hình chăn nuôi, trồng trọt với 36.654 hộ tham gia...
Việc triển khai các mô hình chuỗi giá trị, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế gắn với tiềm năng cây trồng, vật nuôi đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tạo sự thay đổi nhận thức cho người dân và từng bước tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng sản xuất hàng hóa để phát huy hiệu quả hơn tiềm năng, thế mạnh và điều kiện của lực lượng lao động trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN.
Tóm lại, thành quả rất quan trọng là tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS giảm bình quân gần 4%/năm, cao hơn so với tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Thu nhập bình quân của người DTTS đạt 45,9 triệu đồng, tăng 3,3 lần so năm 2020 (mục tiêu tăng trên 2 lần). Các chính sách hỗ trợ và phát triển sinh kế giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống và phát triển kinh tế. Trình độ dân trí, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN ngày càng được nâng cao, góp phần phục vụ công cuộc giảm nghèo. Công tác hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm góp phần giải quyết việc làm ổn định cho một lực lượng lao động rất lớn trên địa bàn. Đồng bào DTTS nghèo được tiếp cận thuận lợi và đầy đủ hơn các dịch vụ công của Nhà nước...
3. Ba trụ cột trong giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030
Ngày 31/01/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030. Một trong những mục tiêu hướng tới của Chương trình là “Phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS&MN. Thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững...”. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi các biện pháp chính sách phải toàn diện, dựa trên 3 trụ cột của giảm nghèo đa chiều nếu muốn đạt được các mục tiêu về giảm nghèo nhanh, bền vững ở mọi chiều cạnh và ở mọi nơi.
Một là, thúc đẩy việc làm và sự dịch chuyển lao động giữa các vùng địa lý, giữa các nghề để lao động người DTTS tham gia tốt hơn vào thị trường việc làm, nhất là việc làm có năng suất, bởi không có hoặc thiếu việc làm là nguyên nhân quan trọng nhất dễn đến tình trạng nghèo. Việc làm có năng suất mang lại đủ thu nhập từ công sức lao động đã bỏ ra để người lao động và người phụ thuộc của họ có mức tiêu dùng cao hơn chuẩn nghèo. Tập trung nâng cao thu nhập cho người nghèo thông qua các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất; ưu tiên hỗ trợ giải quyết các vấn đề quan trọng nhất như sinh kế, học nghề, chuyển giao công nghệ, việc làm, có thu nhập ổn định...
Hai là, cung cấp các dịch vụ xã hội chất lượng cao về giáo dục, y tế. Trong tiếp cận giảm nghèo đa chiều, giáo dục và y tế là nền tảng nâng cao năng lực phát triển con người. Giáo dục giúp người DTTS tiếp cận tri thức, kỹ năng và cơ hội việc làm, từ đó thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói truyền đời. Y tế góp phần bảo đảm sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giảm nguy cơ tái nghèo do bệnh tật. Cung cấp dịch vụ giáo dục và y tế có chất lượng không chỉ giúp giảm các chiều thiếu hụt cơ bản mà còn tạo nội lực để người dân tham gia bình đẳng vào tiến trình phát triển KT-XH.
Ba là, chiến lược giảm nghèo cần tập trung vào địa bàn đặc biệt khó khăn, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH; triển khai các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, hình thành vùng sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt tạo động lực phát triển cho vùng nghèo. Đối với hộ nghèo, cần đổi mới phương thức hỗ trợ riêng lẻ từng hộ sang hỗ trợ thông qua các mô hình tổ chức sản xuất. Hộ gia đình tham gia đóng góp bằng ngày công lao động, hiện vật hoặc tiền, từng bước xóa bỏ chính sách cho không, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường vươn lên thoát nghèo. Chú trọng đào tạo kỹ năng nghề, tạo việc làm, sinh kế bền vững cho người DTTS để họ có thể chuyển dịch lao động phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.
4. Kết luận
Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025 đã tạo ra những tác động tích cực đối với thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam. Không chỉ góp phần nâng cao thu nhập, Chương trình còn giúp giảm đáng kể các chiều thiếu hụt về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận thông tin và điều kiện sống của đồng bào DTTS.
Thông qua đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản và tăng cường năng lực cộng đồng, Chương trình từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với đồng bằng; đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững vùng DTTS&MN. Thành tựu giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 tạo nền tảng quan trọng để bước vào thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: 2026-2030, phấn đấu đạt được các mục tiêu phát triển, bao gồm giảm nghèo ở mọi chiều cạnh cho đồng bào DTTS .
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ, (2025), Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 về tổng kết Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
2. Quốc hội, (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030.
3. Thủ tướng Chính phủ, (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.