1. Mở đầu
Việt Nam là quốc gia có lực lượng lao động trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính), năm 2024, chỉ có 28,3% lao động qua đào tạo, nghĩa là còn 71,7% lao động có việc làm nhưng chưa được đào tạo. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi là 2,24%. Vấn đề là “có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa chuyên môn kỹ thuật và mức sống của dân cư. Dân số thuộc nhóm “giàu nhất” có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất, gấp gần 10 lần so với nhóm “nghèo nhất”.
Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) hiện có trên 7,4 triệu người, tương đương 72,2% số người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động. Tuy nhiên, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động này cũng tồn tại nhiều vấn đề cần quan tâm qua số liệu ghi nhận trong biểu đồ sau:
73% người lao động DTTS không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghĩa là họ đang đối diện với nhiều vấn đề: (i) Thu nhập thấp: Mức lương của lao động phổ thông thường thấp hơn so với lao động có kỹ năng, chuyên môn. (ii) Ít cơ hội thăng tiến: Thiếu kỹ năng chuyên môn khiến người lao động khó có cơ hội được đào tạo để lên các vị trí cao hơn, có trách nhiệm lớn hơn và thu nhập tốt hơn. (iii) Khó khăn khi tìm việc làm: doanh nghiệp luôn ưu tiên tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn khiến người lao động không có kỹ năng gặp bất lợi khi tìm việc, thiệt thòi về sự ổn định và phát triển. (iv) Dễ bị thay thế: Sự phát triển của công nghệ và tự động hóa ngày càng cao, lao động phổ thông có nguy cơ bị thay thế bởi máy móc, robot. (v) Ít có khả năng tự chủ: Người lao động thiếu chuyên môn thường phải thực hiện theo sự chỉ đạo, ít có tiếng nói, ít có cơ hội đưa ra quyết định và sáng tạo trong công việc. (vi) Bấp bênh trong sự nghiệp: Thiếu kỹ năng chuyên môn khiến người lao động dễ dàng chuyển đổi công việc nhưng cũng thường xuyên phải đối mặt với rủi ro mất việc hoặc làm những công việc không ổn định.
Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sẽ giúp người lao động giải quyết được những bất cập trên. Tuy nhiên, “người học nghề chủ yếu là con em các gia đình điều kiện còn khó khăn, là những em không có nhu cầu hoặc không học được lên cao. Mục tiêu của họ là có việc làm ngay, ra trường sớm để làm việc nuôi bản thân và gia đình. Bình quân mỗi năm có khoảng 500.000 em không học lên cao, vì vậy, đây là đối tượng cần hướng tới cho học nghề” (Đào Ngọc Dung, 2025).
Tính đến ngày 31/10/2023, ở Việt Nam có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước (Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, 2023). Phát huy chức năng xã hội của tôn giáo, các tổ chức tôn giáo ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động y tế, giáo dục, nhân đạo, từ thiện, bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng… Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng “lấy con người làm trung tâm của phát triển”, phát huy vai trò, trách nhiệm của tôn giáo trong giáo dục nghề nghiệp cho tín đồ và các thành phần khác trong xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc; là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng trong tình hình hiện nay.
2. Chính sách của Nhà nước về phát huy vai trò tôn giáo tham gia giáo dục nghề nghiệp
Đảng và Nhà nước ta sớm có chủ trương xã hội hóa hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo tại Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ, Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo nêu rõ: “Giải quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… của Nhà nước, theo nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia phù hợp với chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật…”. Điều 55 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cho phép các tôn giáo “được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan”. Khoản 1, Điều 7 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định: “Đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các hình thức giáo dục nghề nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức khác, công dân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp”. “Các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo được tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục như các chủ thể khác trong xã hội, bảo đảm thu hút mạnh mẽ và ngày càng phát huy được nguồn lực từ các tổ chức tôn giáo”.
3. Nguồn lực của tổ chức tôn giáo trong giáo dục nghề nghiệp
Các tôn giáo là một thiết chế xã hội đặc thù, vừa mang tính tinh thần, vừa có chức năng liên kết cộng đồng sâu rộng, do đó, trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, các tôn giáo ở Việt Nam có những nguồn lực có thể phát huy:
Thứ nhất, có điểm tương đồng giữa lý tưởng tốt đẹp vốn có của các tôn giáo trong giáo dục nghề nghiệp với pháp luật về giáo dục nghề nghiệp do Nhà nước ban hành
Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo… đều hướng tín đồ lấy lao động và học tập làm phương tiện tu thân và phụng sự xã hội. Tuyên ngôn giáo dục nghề nghiệp của Công đồng chung Vaticano II (1962-1965) của Công giáo nêu rõ: “Mục tiêu chung của nền giáo dục chân chính là đào tạo con người như một nhân vị, hướng đến lý tưởng của bản thân cũng như lợi ích của cộng đồng mà họ là thành viên”. Mục tiêu này tương tự mục tiêu trong Điều 1 Luật Giáo dục nghề nghiệp của Nhà nước Việt Nam: “Nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”. Các hoạt động giáo dục nghề nghiệp của các tôn giáo không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kỹ năng nghề mà còn hướng dẫn tính kỷ luật, trung thực, tinh thần phụng sự cộng đồng, khiến những giá trị đạo đức của tôn giáo được chuyển hóa thành năng lực nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm và ý thức lao động của người học.
Thứ hai, các tổ chức tôn giáo có mạng lưới cơ sở và khả năng gắn bó cộng đồng cao.
Hiện nay, cả nước có 12 cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc các tổ chức tôn giáo, gồm: 01 trường cao đẳng nghề, 01 trường trung cấp nghề và 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp. 11/12 cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Công giáo, 01 trung tâm giáo dục nghề nghiệp của Phật giáo. Hằng năm, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tôn giáo tuyển sinh đào tạo hệ trung cấp và giáo dục nghề nghiệp ngắn hạn cho trên 2.000 người. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc Công giáo hoạt động bài bản, hiệu quả, đối tượng theo học chủ yếu là con em các gia đình Công giáo nghèo, một số ít là người DTTS của các địa phương. Trong điều kiện các trường nghề khó tuyển sinh như hiện nay nhưng các trường, trung tâm nghề của tôn giáo vẫn tuyển được nhiều học viên, thậm chí số lượng đăng ký học nghề vượt khả năng đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. “Việc cho phép các tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia vào lĩnh vực giáo dục đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của xã hội” (Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, 2023).
Bên cạnh đó, các tôn giáo ở Việt Nam hiện có 29.658 cơ sở thờ tự hoạt động thường xuyên, duy trì quan hệ mật thiết với tín đồ. Nhờ đó, các chức sắc, chức việc nắm rõ nhu cầu, đặc điểm văn hóa, điều kiện sinh kế của địa phương, của tín đồ nên hoạt động giáo dục nghề nghiệp trở nên linh hoạt, phù hợp nhu cầu của tín đồ và xã hội. Chẳng hạn, năm 2005, sư cả Thạch Suông đã thành lập Câu lạc bộ điêu khắc chùa Hang, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (cũ) với hơn 10 thành viên là những vị sư sãi có tay nghề cao, vừa mở rộng việc giáo dục nghề nghiệp cho thanh niên dân tộc Khmer, vừa quảng bá, bán sản phẩm để có nguồn kinh phí trang trải cho công tác giáo dục nghề nghiệp miễn phí. “Nhiều người sau khi lành nghề đã trở về gia đình mở cơ sở điêu khắc và có cuộc sống ổn định. Trong số đó có những thợ giỏi đã tình nguyện ở lại để truyền nghề cho người đến sau”.
Ở các xứ đạo của Công giáo, các dòng tu có sứ mệnh về giáo dục, nhất là giáo dục nghề nghiệp đã đưa khoa học kỹ thuật vào công cuộc giáo dục nghề nghiệp, có trường, có lớp rất quy mô và đem lại hiệu quả cao cho nhiều thế hệ. Như Dòng Don Bosco hiện nay đang có tới 03 trường trung cấp nghề và 01 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, số học sinh rất đông. Các học sinh ra trường đều có tay nghề vững và được các công ty, doanh nghiệp đón nhận. Dòng Gioan Lasan cũng là một dòng có sứ mệnh về giáo dục và giáo dục nghề nghiệp: đã có nhiều cơ sở giáo dục cho thanh thiếu niên nghèo những nghề thông thường như: sửa xe đạp, xe máy, sửa chữa công cụ công nghiệp, cơ khí… thu hút nhiều học sinh nông thôn có hoàn cảnh khó khăn đến học nghề để mưu sinh cho mình và giúp đỡ gia đình. Ngoài ra, còn rất nhiều dòng tu như: Dòng Đaminh, Dòng Mến Thánh giá… dòng nào cũng tích cực tổ chức những lớp học nhà trẻ, mẫu giáo và những lớp hướng nghiệp cho các thanh thiếu niên nam, nữ vì hoàn cảnh không đến trường được học các nghề may, thêu, làm đẹp, chăm sóc các cụ già cao tuổi… “Tất cả những hoạt động của các dòng tu này đã tạo nên mảng rất lớn về hướng nghiệp khắp 03 miền Bắc, Trung, Nam và hằng năm, tạo công ăn việc làm cho nhiều thanh thiếu niên nam nữ có nghề nghiệp để mưu sinh” (Linh mục Nguyễn Văn Uy, 2022).
Thứ ba, các tổ chức tôn giáo có năng lực xã hội hóa và khả năng huy động nguồn lực hiệu quả
“Các tổ chức tôn giáo không bị giới hạn bởi các ranh giới quốc gia, đặc thù của đức tin là vượt qua ranh giới địa - chính trị nên tôn giáo có ưu thế trong việc kêu gọi các nguồn tài trợ từ bên ngoài, trong việc thực hiện các hoạt động xã hội, cung cấp các dịch vụ công” và “ngoài việc cung cấp các dịch vụ, các tổ chức này còn có khả năng huy động một nguồn lực xã hội đáng kể (do có một uy tín đạo đức riêng biệt), huy động nguồn tài chính lớn, sử dụng đội quân tình nguyện viên hùng hậu (điều mà khó có tổ chức xã hội dân sự nào có thể tự hào hơn họ)” (Đỗ Lan Hiền, 2025).
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc các tôn giáo hiện nay đều có tư cách pháp nhân đầy đủ, đều thuộc về tổ chức tôn giáo. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tốt, đảm bảo yêu cầu. Tất cả các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu của các các trường, trung tâm đều không nhận lương. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tôn giáo hoạt động với phương châm, mục đích giáo dục nghề nghiệp rõ ràng, hoạt động từ thiện phi lợi nhuận. Trường Cao đẳng Hòa Bình Xuân Lộc (Đồng Nai) - trường tư thục đầu tiên trong nước được thành lập từ sau năm 1975 của Công giáo là một minh chứng. Cơ sở vật chất của trường được đầu tư khang trang, hiện đại, có đầy đủ khu ký túc xá, sân chơi thể thao, các xưởng thực hành được trang bị đầy đủ máy móc tiên tiến phục vụ nhiệm vụ đào tạo theo 03 cấp độ: cao đẳng, trung cấp, sơ cấp cho 20 ngành nghề khác nhau; bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động theo yêu cầu của cơ sở sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và người lao động. Việc chiêu sinh không phân biệt có đạo hay không có đạo. “Trong thời điểm Chính phủ đang phải đối mặt với những thách thức lớn về nguồn lực thì việc tận dụng nguồn lực của các tổ chức tôn giáo trong công tác an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay là khả thi và là một lợi thế, góp phần giảm gánh nặng ngân sách của Chính phủ và người dân được thụ hưởng một cách rộng khắp hơn, đặc biệt ở những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số” (Đỗ Lan Hiền, 2025).
Thứ tư, không giống các dự án phát triển có thời hạn, các tổ chức tôn giáo hoạt động liên tục và lâu dài tại địa bàn. Nhờ vậy, các chương trình giáo dục nghề nghiệp của tôn giáo thường bền vững, gắn bó với đời sống dân cư, không mang tính chiến dịch
Thứ năm, khả năng kết hợp hiệu quả giữa văn hóa, đạo đức với kỹ năng nghề nghiệp cao
Các hoạt động giáo dục nghề nghiệp do tổ chức tôn giáo thực hiện không chỉ dạy kỹ năng mà chú trọng giáo dục phẩm chất, giúp người học vừa có nghề, vừa có đạo đức, vừa có động lực cống hiến. Sau khi tốt nghiệp ra trường, đa số người lao động học từ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tôn giáo được chủ sử dụng lao động đánh giá cao về kỹ năng lao động, trách nhiệm và kỷ luật lao động tốt.
4. Kết luận
Các tổ chức tôn giáo có mạng lưới rộng khắp cả nước, từ thành thị tới nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS;có uy tín xã hội, khả năng tập hợp và ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức, hành vi vàđạo đức của tín đồ. Những lợi thế này giúp tôn giáo trở thành một kênh chungtay cùng Nhà nước đẩy mạnh công tác giáo dục nghề nghiệp tới những nhóm xã hộimà hệ thống công lập chưa bao phủ hết. Do đó, cần nhìn nhận tôn giáo như một đốitác xã hội trong phát triển nguồn nhân lực để có chính sách hình thành hệ sinhthái hợp tác nhà nước - tôn giáo - doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tích cực phát huyvai trò của tôn giáo trong giáo dục nghề nghiệp còn là giải pháp hiệu quả gópphần giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động, việclàm, thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm nghèo của lực lượng lao động cả nướcnói chung, lao động người DTTS nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo.
2. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Giáo dục nghề nghiệp.
4. Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, 2023.
5. Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số lần thứ III năm 2024, Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
6. Xem Nguyễn Đức Dũng (2021), Tôn giáo tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.