Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn học nghệ thuật

“Thuốc Trường sinh” cho văn hóa dân tộc

Nguyễn Duy Dũng - Thuỳ Trang - 08:35, 30/01/2026

Mỗi làn điệu dân ca, mỗi hoa văn thổ cẩm, mỗi lễ hội truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam đều là những viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa dân tộc. Tiếc thay, trong nhịp sống hiện đại, không ít di sản đang đứng trước nguy cơ, bị lãng quên trong chính cộng đồng từng sinh ra nó. Chính vì thế, hành trình số hóa di sản văn hóa dân tộc - một hướng đi mới mẻ, đầy tiềm năng đang mở ra cánh cửa kết nối quá khứ với hiện tại, để di sản sống mãi cùng thời gian.

Việt Nam có gần 9000 lễ hội truyền thống. Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 2139/QĐBVHTTDL phê duyệt Đề án Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Theo đó, nhiều địa phương đã chủ động số hóa lễ hội của địa phương mình, kết hợp với số hóa các di tích.

Nếu trước đây, việc bảo tồn văn hóa chủ yếu gắn với tư liệu giấy tờ, sưu tầm hiện vật, thì ngày nay, công nghệ số đã giúp lưu giữ, tái hiện và lan tỏa những giá trị truyền thống bằng cách thức sinh động hơn. Từ việc dựng phim 3D các di tích lịch sử, quét số hóa các hiện vật quý trong bảo tàng, đến xây dựng thư viện số, bản đồ số văn hóa hay nền tảng dữ liệu về nghệ thuật dân gian - tất cả đang góp phần “hồi sinh” ký ức dân tộc trong không gian mạng.

Những năm gần đây, nhiều địa phương đã tiên phong đưa công nghệ vào bảo tồn di sản. Ở Bắc Ninh, các nghệ nhân quan họ được ghi âm, quay video và số hóa tư liệu thành kho dữ liệu mở phục vụ học tập, nghiên cứu. Tại Tây Nguyên, không gian cồng chiêng được tái hiện bằng công nghệ thực tế ảo, giúp người xem trải nghiệm lễ hội dù ở cách xa hàng nghìn cây số…

Tại tỉnh Lào Cai, đã sưu tầm, lưu trữ và bước đầu số hóa hơn 22.000 hiện vật và ảnh tư liệu; thực hiện quay dựng 9 video chuyên đề về văn hóa truyền thống các dân tộc như Phù Lá, Hà Nhì, Dao, Mông, La Chí…; phục dựng và bảo tồn nhiều lễ hội truyền thống, dân ca, dân vũ và nghề thủ công; lập 5 hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia về nghề làm trang phục, nghệ thuật trang trí và tri thức dân gian.

Điều đáng mừng là giới trẻ các dân tộc thiểu số đang trở thành những người tiên phong trong hành trình số hóa này. Bằng điện thoại thông minh, họ quay lại lễ hội ở bản làng, ghi chép lời hát Then, khèn Mông, chia sẻ lên mạng xã hội; hay mở kênh YouTube, TikTok giới thiệu văn hóa quê hương bằng giọng nói của chính mình. Những clip ngắn về phong tục cưới hỏi, nghề thủ công hay ẩm thực dân tộc không chỉ thu hút hàng trăm nghìn lượt xem mà còn khơi dậy niềm tự hào văn hóa trong cộng đồng.

Lễ hội đua Ghe Gho của đồng bào Khmer
Lễ hội đua Ghe Gho của đồng bào Khmer

Song, số hóa di sản không chỉ là lưu giữ hình ảnh, âm thanh, mà quan trọng hơn là gìn giữ tinh thần và tri thức của văn hóa. Mỗi di sản không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, mà còn chứa đựng triết lý sống, đạo lý con người, kinh nghiệm ứng xử với thiên nhiên, thứ không thể thay thế bằng công nghệ. Vì thế, công nghệ chỉ là công cụ; điều cốt lõi vẫn là con người - những người hiểu, yêu và sống cùng di sản.

Hành trình số hóa di sản văn hóa dân tộc vì vậy cần sự chung tay của các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu, nghệ nhân, cho đến cộng đồng người dân - chủ thể sáng tạo và lưu giữ. Mỗi bức ảnh, mỗi thước phim, mỗi bản ghi âm nếu được gìn giữ có trách nhiệm sẽ trở thành “ký ức số” của dân tộc, là cầu nối giữa truyền thống và tương lai.

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, khi mọi ranh giới địa lý được xóa nhòa, di sản văn hóa dân tộc Việt Nam có cơ hội lan tỏa rộng hơn bao giờ hết. Một điệu múa của người Thái có thể được ngắm nhìn ở Paris (Pháp), một tiếng hát Then vang lên ở Tokyo (Nhật Bản), thổ cẩm của người Dao có thể tỏa sáng sàn diễn Milan (nước Ý). Đó không chỉ là thành tựu công nghệ, mà còn là sự hồi sinh của bản sắc dân tộc trong thế giới hiện đại.

Giữ hồn di sản bằng công nghệ là cách người Việt hôm nay tri ân cha ông và trao gửi văn hóa dân tộc cho mai sau. Bởi mỗi cú nhấp chuột để lưu lại một điệu hát, mỗi dòng dữ liệu lưu trữ một phong tục, tập quán, chính là một hành động giữ lấy hồn cốt dân tộc giữa nhịp sống đang đổi thay từng ngày.

Số hóa di sản, số hóa lễ hội chính là góp phần cụ thể hóa chủ trươngchung nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng, Nhànước. Điều này càng có ý nghĩa thiết thực hơn trong bối cảnh cả nước tích cựctriển khai Nghị quyết số 57-NQ/ TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột pháphát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia./.