Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn học nghệ thuật

Vai trò của Phật giáo Nam tông đối với ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật của người Khmer ở Nam Bộ

TS. Nguyễn Châu Giang - 08:31, 30/01/2026

Phật giáo Nam tông có vai trò và ảnh hưởng chi phối lớn đến mọi lĩnh vực đời sống cư dân từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần của người Khmer ở Nam Bộ. Với hơn 90% người Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông, tôn giáo này đóng vai trò quan trọng trong duy trì và phát triển ngôn ngữ; bảo tồn kho tàng văn học dân gian và cổ điển; kiến tạo nên nền nghệ thuật đặc sắc của cộng đồng người Khmer.

Phật giáo Nam tông có vai trò và ảnh hưởng chiphối lớn đến mọi lĩnh vực đời sống cư dân từ đời sống vật chất đến đời sốngtinh thần của người Khmer ở Nam Bộ. Với hơn 90% người Khmer ở Nam Bộ theo Phậtgiáo Nam tông, tôn giáo này đóng vai trò quan trọng trong duy trì và phát triểnngôn ngữ; bảo tồn kho tàng văn học dân gian và cổ điển; kiến tạo nên nền nghệthuật đặc sắc của cộng đồng người Khmer. Bài viết này tập trung phân tích vaitrò của Phật giáo Nam tông đối với ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật của ngườiKhmer ở Nam Bộ.

1. Vai trò của Phật giáo Nam tông đối với ngôn ngữ và chữ viết của người Khmer

Chữ Khmer, thuộc hệ chữ Ấn Độ có một mối liên hệ chặt chẽ với Pali và Sanskrit - hai ngôn ngữ kinh điển của Phật giáo. Theo cuốn “Lịch sử văn minh thế giới” do Lê Phụng Hoàng chủ biên, thì chữ Khmer cổ xuất hiện lần đầu tiên năm 611, phát triển và hoàn chỉnh dần đến thế kỷ thứ XV thì hoàn toàn chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống văn bản Khmer. Khi Phật giáo được truyền bá đến bằng chữ Pali thì các trí thức Khmer lấy thêm nhiều danh từ áp dụng vào ngôn ngữ của mình cho đến ngày nay. Khi Phật giáo Nam tông thâm nhập vào văn hóa của người Khmer kèm theo là kinh sách, giáo lý được truyền bá trong cộng đồng dân tộc Khmer. Phật giáo Nam tông sử dụng kinh sách theo ngữ hệ Pali là chủ yếu, cho nên tín đồ muốn học, hiểu được kinh sách thì phải biết ngữ hệ Pali. Người Khmer bên cạnh việc học chữ Khmer, còn học và sử dụng tiếng Pali thường xuyên, liên tục. Hệ thống chữ viết Khmer đã được điều chỉnh và hoàn thiện để có thể phiên âm chính xác các từ ngữ Pali, qua đó tăng cường khả năng diễn đạt của ngôn ngữ, đặc biệt là về từ vựng học thuật, tôn giáo và triết học. Tiếng Pali làm cho ngôn ngữ Khmer càng thêm phong phú, sâu sắc, đủ sức diễn đạt tư tưởng, tình cảm của con người trong cuộc sống hằng ngày, diễn đạt được những tư tưởng sâu xa, tinh túy của Phật giáo Nam tông. Như vậy, đối với ngôn ngữ Khmer, chữ Pali, ngữ hệ của kinh sách Phật giáo Nam tông có vai trò quan trọng. Trong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer đều tổ chức các lớp dạy ngữ văn Khmer và Pali (kết hợp giảng dạy cả giáo lý Phật giáo) cho thanh thiếu niên và sư sãi người Khmer.

Chùa chiền và kinh điển Phật giáo Nam tông là nguồn sống và môi trường bảo tồn quan trọng nhất của tiếng Khmer. Trong nhiều thế kỷ, chùa chiền là trung tâm giáo dục duy nhất của người Khmer. Các vị sư đã dạy chữ Khmer cổ, tiền thân của chữ Khmer hiện đại, thông qua việc học đọc, viết và chép kinh kệ. Việc chép kinh trên lá buông và sau này là in ấn đã hình thành nên một nhu cầu về mặt chữ viết có tính chuẩn hóa. Sư sãi không chỉ là người giữ đạo mà còn là người giữ chữ. Việc giảng dạy này giúp duy trì sự truyền thừa của hệ thống chữ viết Khmer trong cộng đồng. Ngôn ngữ sử dụng trong các bài kinh, các nghi lễ cúng bái và các buổi thuyết pháp của sư sãi là ngôn ngữ chuẩn mực và trang trọng nhất. Điều này giúp duy trì một phong cách ngôn ngữ chuẩn mực trong giao tiếp tôn giáo và xã hội.

2. Vai trò của Phật giáo Nam tông đối với văn học của người Khmer

Qua những bia đá, trên lá buông, trên giấy xếp có thể nói người Khmer từ xa xưa đã biết ghi chép những sáng tác dân gian, tư liệu văn hóa, tôn giáo để lưu giữ. Văn học viết lẫn văn học dân gian truyền miệng đều có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người Khmer; phản ánh lối tư duy mộc mạc về thiên nhiên và xã hội, trong đó có về tôn giáo, nhất là Bà-la-môn giáo và Phật giáo. Phật giáo Nam tông là nguồn cảm hứng bất tận, là kho tàng cốt truyện và là công cụ truyền bá tư tưởng đạo đức thông qua văn học cho người Khmer. Như trong kho tàng truyện dân gian của người Khmer có dấu ấn về những trào lưu văn hóa Ấn Độ, trước hết là Bà-la-môn giáo và sau đó là Phật giáo như: Nguồn gốc vũ trụ và muôn loài; Sự tích mưa, gió, Mặt Trời và Mặt Trăng; Nàng Mêkhalag (giải thích hiện tượng sấm sét); truyện Rìahu (sự tích nhật thực, nguyệt thực)... Có truyện được xây dựng theo xu hướng gắn với quan điểm của Phật giáo Tiểu thừa nhằm đề cao Đức Phật, như truyện Rìahu.

Từ Phật giáo Tiểu thừa, người Khmer đã sáng tạo ra nhiều câu chuyện liên quan đến tư tưởng của Phật giáo như: luật nhân quả, luân hồi thể hiện trong truyện Một kiếp luân hồi và nhiều truyện giải thích về các lễ hội, các nghi thức tín ngưỡng, phong tục trong các lễ hội (như các lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok...). Hầu hết các truyện loại này có nguồn gốc là các Phật thoại. Truyện Thômabal và Kabil Maha Prum - thần Bốn mặt nói về việc vị thần Kabil Maha Prum - thần Bốn mặt vì thua trí Hoàng tử Thômabal nên đã tự cắt đầu của mình. Sau đó cứ hằng năm, 07 cô con gái của vị thần này cử hành nghi lễ bưng đầu lâu bốn mặt của cha lên núi Tu Di sau khi đã đi vòng quanh chân núi 03 vòng. Ngày nay khi tổ chức lễ vào năm mới (Chôl Chnăm Thmây), ngày đầu tiên là ngày lễ rước Maha Sangkran mới (quyển Đại lịch), người Khmer tổ chức rước Maha Sangkran đi vòng quanh chính điện 03 lần để nhớ huyền thoại trên. Câu chuyện dân gian này ngụ ý đến sự thắng thế của Phật giáo đối với Bà-la-môn giáo trong xã hội lúc bấy giờ. Hay như câu chuyện “Sự tích lễ cúng Trăng trong lễ hội Ok Om Bok” nói về nghĩa cử của Đức Phật Thích Ca trong một kiếp trước đã đầu thai làm con thỏ. Con thỏ ấy sẵn sàng hiến thân mình cho người ăn xin (do thần Sakra giả thành). Thần Sakra khen ngợi con thỏ về hành động cao cả đó và vẽ hình con thỏ lên Mặt Trăng. Do vậy cúng Trăng là tưởng nhớ đến Đức Phật.

Trong văn học dân gian và truyền miệng, Phật giáo đã cung cấp một hệ thống triết lý và đạo đức, được lồng ghép một cách khéo léo vào truyện cổ tích và ngụ ngôn Khmer. Các truyện thường đề cao vai trò của người nghèo khó nhưng có đạo đức và kết thúc bằng việc cái ác bị trừng phạt theo luật nhân quả. Việc giảng kinh và kể chuyện đạo đức tại chùa là hình thức văn học truyền miệng quan trọng. Sư sãi là những người kể chuyện và nhà giáo dục thông thái, họ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu (thường là thơ, ca dao, hò vè) để truyền tải giáo lý, giúp duy trì sự sống động của văn học dân gian. Về tục ngữ, bên cạnh những tục ngữ nói về những lời dạy của người xưa truyền lại, về phong tục, tập quán, còn có tục ngữ đề cập đến lời giáo huấn của Phật. Một số câu tục ngữ và bài hát dân gian sau đây cho thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo: “Muốn biết phải hỏi À cha. Muốn ăn hoa quả phải đốt gốc cây”; “Làm ngu hơn là thóc mách. Im lặng hơn nói khoác. Nhai chuối sống hơn là để miệng không”.

Trong văn học viết, vai trò của chùa trong việc chép và dịch kinh đã tạo ra nền móng cho văn học viết Khmer. Tác phẩm Jataka (Chuyện tiền thân Đức Phật): Bộ Jataka gồm 550 truyện kể về các kiếp tái sinh của Đức Phật là nguồn cốt truyện vĩ đại nhất của văn học Khmer. Các truyện này được chép trên lá buông, dịch ra tiếng Khmer và được truyền miệng rộng rãi. Những tác phẩm được ghi chép trên lá buông và thường được gọi chung là sa tra. Sa tra có thể được chia làm 04 loại chính, trong đó, nhiều truyện có liên quan đến tư tưởng luân hồi của Phật giáo, ghi chép những Phật thoại và kinh Phật.

3. Vai trò của Phật giáo Nam tông đối với nghệ thuật của người Khmer

Nghệ thuật của người Khmer thể hiện đa dạng trên nhiều lĩnh vực. Đối với nghệ thuật biểu diễn có nhiều loại hình như âm nhạc, múa, sân khấu Rôbăm, Dù kê... Phật giáo Nam tông là người bảo trợ, người sáng tạo và người trình diễn chính của nền nghệ thuật Khmer truyền thống, biến ngôi chùa thành viện bảo tàng sống và nhà hát cộng đồng. Đối với nghệ thuật tạo hình thì có các loại hình tiêu biểu như kiến trúc, điêu khắc, hội họa... Từ khi Phật giáo thâm nhập vào đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc Khmer Nam Bộ, các hoạt động văn hóa đều chịu sự tác động ít nhiều đối với văn hóa Phật giáo. Chùa là sân khấu trung tâm và là nơi lưu giữ các bí quyết truyền nghề của nghệ thuật múa. Trong nghệ thuật biểu diễn cũng có một số loại hình chịu ảnh hưởng như ca hát dân gian, Dù kê cũng có một số tuồng tích liên quan rõ nét đến Phật giáo (tuồng Cởi áo cà sa, Giữ đền Vêhia, Vê sân đo...). Tuy nhiên, nghệ thuật biểu hiện nổi bật về sự ảnh hưởng ấy là nghệ thuật tạo hình.

Trong kiến trúc, nhiều thế kỷ nay, Phật giáo đã thâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer. Phật giáo Nam tông trở thành tôn giáo chính của dân tộc Khmer Nam Bộ. Gia đình và phum sóc của cộng đồng dân tộc Khmer có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại rất sâu sắc với ngôi chùa Phật giáo Nam tông. Gia đình và phum sóc là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của ngôi chùa và Phật giáo; ngược lại ngôi chùa cùng với các hoạt động tu tập, hành đạo, truyền đạo của sư sãi đã làm cho triết lý Phật giáo tác động lớn lao đến đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Khmer. Chính vì sự tôn sùng Phật giáo nên người Khmer sẵn sàng xây dựng ngôi chùa nơi mình cư trú để đáp ứng nhu cầu tụ tập, học đạo, hành đạo, hoạt động văn hóa.

Ngôi chùa Khmer được xây dựng là một tổng thể với nhiều công trình (công trình xây dựng nhà, điêu khắc, hội họa, trồng cây, phân khu chức năng trong khuôn viên chùa...). Ngôi chùa Khmer có các hạng mục: cổng chùa, chính điện, trai đường, tăng xá, liêu, phòng học, thư viện, nhà bếp, tháp để cốt, nhà hỏa táng, hàng rào, sân chùa, đường đi trong chùa, ao nước, vườn cây xanh và các công trình phụ khác. Ngôi chùa Khmer là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp quan trọng nhất. Kiến trúc chùa Nam Bộ nổi bật với mái cong (túp pi), thiết kế nhiều tầng, mái dốc, đầu hồi được chạm trổ tinh xảo, thể hiện sự thăng hoa của tôn giáo; với hình tượng Rồng Naga (tượng trưng cho sự bảo vệ) và chim Garuda (thần điểu, biểu tượng sức mạnh) được trang trí ở các đầu mái, cầu thang, mang ý nghĩa bảo vệ Phật pháp. Chùa là nơi phô diễn kỹ thuật xây dựng, điêu khắc gỗ, đắp nổi và chạm khắc tinh xảo nhất của người Khmer.

Nhìn chung ngôi chùa Khmer là một công trình mang giá trị nghệ thuật tập trung nhất, cao nhất của tinh hoa văn hóa kiến trúc của dân tộc Khmer. Giá trị kiến trúc ngôi chùa vừa thể hiện tư duy sáng tạo của dân tộc Khmer trong xây dựng công trình vừa tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định của triết lý Phật giáo, đồng thời có sự hòa quyện, dung hợp với văn hóa truyền thống và Bà-la-môn giáo. Ở mỗi phum sóc, ngôi chùa có tính chất trung tâm ở cả hai ý nghĩa, trung tâm của không gian văn hóa và trung tâm cả trong giá trị văn hóa. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa - tôn giáo của dân tộc Khmer, ở cấp độ khái quát về giá trị thì ngôi chùa là biểu tượng văn hóa của dân tộc Khmer.

Trong nghệ thuật điêu khắc Khmer chủ yếu tập trung thể hiện ở các sản phẩm trong ngôi chùa. Các tượng tròn, phù điêu, hoa văn... được tạc bằng một số loại chất liệu phổ biến như xi măng, gỗ và một số ít bằng kim loại như bạc, đồng, thau, kẽm... Nghệ thuật điêu khắc và hội họa trong chùa chủ yếu tập trung vào việc minh họa các tích truyện Jataka và cuộc đời Đức Phật. Những bức tranh tường và phù điêu không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là sách giáo khoa trực quan về lịch sử tôn giáo và đạo đức cho người dân, đặc biệt là những người không biết chữ.

Tượng Phật là di sản trung tâm của ngôi chùa; thường được các nghệ nhân Khmer tạc tượng bằng xi măng, gỗ. Tượng Phật đắc đạo hoặc tượng Phật thiền định thường được tạc với kích thước lớn và đặt ở vị trí trung tâm trên bệ thờ nơi chính điện. Đôi lúc, phía sau tượng Phật đắc đạo, hay phía sau điện thờ có đắp nổi hình thần Himthôny hai tay nắm lọn tóc dài như con rắn đứng trên tòa sen nổi trên hình sóng nước.

Tượng Phật còn được tạc để tái hiện những thời điểm khác nhau trong cuộc đời của Người, tiêu biểu như tượng Phật đản sinh, tượng Phật khổ hạnh, tượng Phật cứu vớt chúng sinh, tượng Phật đi khuyến thiện, tượng Phật ngồi trên rắn thần Muchalinda, tượng Phật nhập Niết bàn... Đặc biệt tượng Phật nhập Niết bàn được tạc với kích thước lớn, được tô màu và đặt nơi trang trọng có tính tiêu biểu như ở các chùa: Khươn (chùa Phướng), Knong Sróc (chùa Qui Nông), Bonrai Chás (chùa Vàm Ray)...

Trong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer có rất nhiều loại tượng thể hiện là các vị thần Bàlamôn, đặc biệt có tượng thần Bà-la-môn được dung hợp tư tưởng Phật giáo hoặc dung hợp tư tưởng của dân tộc Khmer. Các loại tượng thần thuộc Bà-la-môn giáo đã được dung hợp tư tưởng Khmer. Có thể kể như: Brahma được gọi là Preah Prum, Indra được gọi là Preah In, Vishnu được gọi là Preah Neareay (thường được dân gian hóa gọi là thần Bốn mặt).

Trong ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer, 03 linh vật trong thần thoại được tạc tượng và đặt ở những nơi rất trang trọng. Đó là: Tượng thần Rắn Naga (có 05, 07 hoặc 09 đầu xòe ra hình rẻ quạt), là linh vật tượng trưng cho dân tộc Khmer; thường được tạc tượng tròn đặt ở hai bên cổng chùa hoặc trên mái nhà chính điện; tượng Niệt Kờrệt - rồng (trong tích Phật, người Khmer kể rằng, rồng đã biến thành thuyền giúp đưa Đức Phật đi thuyết pháp); tượng tròn của rồng cũng được sử dụng tương tự như tượng thần Rắn Naga; tượng Reach cha sei (con vật này có đầu rồng, mình sư tử, chân trâu, là loài vật mạnh nhất trong các loài thú với ý nghĩa là chúa của muông thú; tượng Reach cha sei được tạc tượng tròn bằng xi măng để ở nơi trang trọng trong sân chùa, hoặc có lúc được tạc thành ghế gỗ cho sư cả trong chùa ngồi thuyết pháp).

Trong hội họa Khmer liên quan đến đề tài Phật giáo thường được biểu hiệntrong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Các bức tranh thường được vẽtrong chính điện, trên trần nhà và trên tường. Những bức họa về Đức Phật có thểđược xem như một truyện tranh về tiểu sử của Phật Thích Ca. Các bức tranh trìnhbày liên hoàn; nội dung của chúng mô tả các sự kiện quan trọng trong cuộc đời ĐứcPhật từ lúc đản sinh đến khi xuất gia, tu hành, đắc đạo, nhập Niết bàn... Bên cạnhđó, trong chùa còn có nhiều bức họa về các vị thần của Bà-la-môn giáo. Trong tổngthể chung, loại hình hội họa vẫn thể hiện tính dung hợp giữa Phật giáo vớiBà-la-môn giáo và cả với thần thoại Khmer. Từ những thành tựu đặc sắc trong kiếntrúc, điêu khắc, hội họa, một số chùa Phật giáo Nam tông Khmer tiêu biểu đã đượccông nhận là di tích kiến trúc cấp quốc gia, như chùa Kompong (chùa Ông Mẹt),chùa Âng….

Tài liệu tham khảo

1. Lê Phụng Hoàng (2003), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb. Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh.

2. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Sài Gòn.

3. Viện Văn hóa (1988), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang.

4. Viện Văn hóa (1987), Người Khmer Cửu Long, Sở Văn hóa - Thông tin Cửu Long xuất bản.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Trương Thi Thạnh, Vai trò của Phật giáo Nam tông với người Khmer ở Nam Bộ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 7/2016.