1. Mối quan hệ giữa tôn giáo và đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Theo cách hiểu thông thường, nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Một quan điểm khác lại cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó, đó là những người lao động có kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa, thì nguồn nhân lực phải có khả năng thích ứng nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ khoa học công nghệ mới, với năng lực chuyên môn và trình độ thành thạo nghiệp vụ cao; Có ý chí vượt khó, bền bỉ trong công việc, có năng lực kiềm chế bản thân...; Có đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần dân chủ, hợp tác và ý thức về tập thể, vì cộng đồng cao; Có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao, có sáng kiến đột phá, sáng tạo trong công việc...; Có năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội trong công việc, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho xã hội...
Để nguồn nhân lực nói chung có những đóng góp thiết thực và hiệu quả chosự phát triển bền vững của cộng đồng và toàn xã hội thì nguồn nhân lực không chỉlà kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà còn bao gồm phẩm chất đạo đức, tinh thầntrách nhiệm và khả năng thích ứng. Và tôn giáo với một hệ thống niềm tin, giátrị và nghi lễ sâu sắc, có ảnh hưởng to lớn đến nhận thức và hành vi cá nhân đãgóp phần bổ sung và hỗ trợ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, ngaychính bản thân tôn giáo cùng với số lượng tín đồ có đầy đủ phẩm chất đạo đức,tinh thần trách nhiệm cũng là một nguồn nhân lực. Nguồn lực con người trong tôngiáo bao gồm: đội ngũ các chức sắc, tu sĩ, tín đồ, những cá nhân làm công táctôn giáo chuyên trách và các lực lượng tình nguyện viên tích cực tham gia vàohoạt động xã hội. Tính đến hết tháng12/2023, cả nước có hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo; 43 tổ chức thuộc16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt độngtôn giáo; với trên 27,7 triệu tín đồ, chiếm trên 27,7 % dân số cả nước, trongđó có trên 54.500 chức sắc, gần 145.000 chức việc. Tham gia vào lĩnh vực giáo dục,hiện nay, các tôn giáo trong cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2000 cơ sởgiáo dục mầm non, 22 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo (gồm: 01 trườngcao đẳng, 01 trường trung cấp và 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp). Nhiều lớphọc tình thương, trường, lớp mầm non… do các tổ chức tôn giáo thành lậpđã và đang có những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo vàngày càng được tín nhiệm trong xã hội. Nhiều tổ chức tôn giáo đã thành lập cácđội tình nguyện hỗ trợ xóa mù chữ cho trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới;lập chi hội khuyến học cho học sinh nghèo hiếu học và tạo điều kiện giúp đỡ cácem có hoàn cảnh khó khăn trong thời gian học tập. Thực tiễn ở Việt Nam đã minhchứng vai trò nguồn lực con người tôn giáo tạo ra những giá trị cộng đồng bền vững,góp phần xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và giàu bản sắc dân tộc.
2. Vai trò của tôn giáo trong phát triển phẩm chất nguồn nhân lực
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, việc phát triển phẩm chất nguồn nhân lực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tôn giáo, với vai trò là hệ thống niềm tin, giá trị và chuẩn mực luân lý sâu sắc, từ lâu đã đóng vai trò thầm lặng nhưng mạnh mẽ trong việc định hình nhân cách và phẩm chất của con người. Đây là nền tảng để hình thành những giá trị sống và chuẩn mực đạo đức, giúp con người và cộng đồng định hướng hành vi, tìm kiếm ý nghĩa sống, vượt qua khó khăn và củng cố tinh thần đoàn kết trong các thời kỳ biến động. Các tín đồ tôn giáo khi có niềm tin hướng thiện, tinh thần vị tha và lòng bác ái sẽ đóng vai trò tích cực và sáng tạo hơn trong sự phát triển chung của cộng đồng.
Mọi tôn giáo đều sở hữu một hệ thống luân lý đạo đức toàn diện, được củng cố bởi niềm tin vào một đấng tối cao hoặc một quy luật vũ trụ (như nghiệp báo, luật trời). Hệ thống này có ba chức năng cốt lõi ảnh hưởng đến phẩm chất người lao động. Chức năng định hướng: Cung cấp các chuẩn mực ứng xử rõ ràng (ví dụ: cấm nói dối, cấm trộm cắp, khuyến khích bác ái, trung thực). Chức năng nội tại hóa: Giúp tín đồ tiếp nhận và biến các chuẩn mực thành lương tâm và ý thức tự giác, chi phối hành vi ngay cả khi không có sự giám sát bên ngoài. Chức năng tăng cường: Thông qua các nghi lễ, tụ họp, và cộng đồng, các giá trị này được củng cố và duy trì bền vững trong đời sống cá nhân.
Các học thuyết tôn giáo đã trực tiếp xây dựng nên những phẩm chất đạo đức nền tảng, tạo ra sự khác biệt trong tư duy và hành động của người lao động. Hầu hết các tôn giáo đều đề cao sự chăm chỉ, siêng năng và coi đó là một đức tính cao quý, thậm chí là một hình thức thực hành tôn giáo. Trong Thiên Chúa giáo (Công giáo, Tin Lành): Tư tưởng “Làm việc là phục vụ Chúa” (lời kêu gọi/thiên chức) thúc đẩy người lao động làm việc với sự tận tâm, làm tốt nhất khả năng của mình. Đây là nguồn gốc sâu xa của tính kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp cao trong các nền kinh tế phương Tây. Trong Phật giáo: Khuyến khích chính nghiệp có nghĩa là sinh sống bằng nghề nghiệp chân chính và Tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả áp dụng vào công việc, tạo ra tinh thần làm việc không vụ lợi, vì lợi ích chung, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
Một là, tôn giáo xây dựng tính liêm chính và trung thực là nền tảng cho mọi giao dịch kinh tế và quản trị doanh nghiệp hiện đại. Với nguyên tắc cấm trộm cắp, cấm gian dối là chung cho mọi tôn giáo lớn. Trong kinh doanh, điều này được chuyển hóa thành tính minh bạch, giữ lời hứa và chống tham nhũng. Người tín đồ có xu hướng phát triển một “la bàn đạo đức” nội tại mạnh mẽ hơn, bởi họ tin rằng hành vi của mình không chỉ bị giám sát bởi con người mà còn bởi một quyền lực siêu nhiên, tạo ra sự khác biệt lớn trong các vị trí quản lý tài chính và ra quyết định quan trọng.
Bên cạnh đó, tôn giáo thường đặt mục đích sống vượt ra ngoài lợi ích cá nhân. Phát triển tinh thần phục vụ và đạo đức kinh doanh. Các tôn giáo khuyến khích lòng bác ái, từ bi và giúp đỡ người khác. Khi áp dụng vào công việc, điều này chuyển thành tinh thần phục vụ khách hàng, quan tâm đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi nhuận và đạo đức. Nhiều tôn giáo đề cao việc bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách có trách nhiệm, như: các học thuyết về quản lý trái đất của Ki-tô giáo, hay tinh thần không sát hại của Phật giáo, góp phần hình thành nguồn nhân lực có ý thức về phát triển bền vững.
Hai là, vai trò của tôn giáo không chỉ dừng lại ở đạo đức mà còn đi vào rèn luyện các kỹ năng mềm quản lý bản thân cho nguồn nhân lực. Thông qua thực hành tôn giáo rèn luyện kỷ luật tự giác và khả năng tập trung. Các nghi lễ, quy định tu tập, cầu nguyện, ăn chay và đặc biệt là thiền định trong Phật giáo đòi hỏi sự kiên trì, tập trung cao độ, kỷ luật nghiêm ngặt về thời gian và hành vi. Kỷ luật được rèn luyện từ tôn giáo chuyển hóa thành kỷ luật làm việc, khả năng quản lý thời gian, hoàn thành đúng hạn và duy trì sự tập trung trong môi trường công việc phân tán.
Tôn giáo là một trong những thiết chế xã hội tạo ra vốn xã hội mạnh mẽ nhất giúp phát triển kỹ năng xã hội và tinh thần cộng đồng. Các buổi tụ họp, lễ nghi và hoạt động xã hội của nhà thờ, chùa chiền yêu cầu tín đồ tham gia vào các hoạt động tập thể, học cách lắng nghe, chia sẻ và hợp tác giúp nâng cao kỹ năng làm việc nhóm. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp và thuyết phục thông qua việc những người tham gia vào công tác tôn giáo, từ thiện hoặc truyền giáo thường có kỹ năng giao tiếp, trình bày và khả năng truyền cảm hứng tốt, là lợi thế lớn trong công việc và lãnh đạo. Các giáo lý của tôn giáo về sự nhẫn nhịn, tha thứ và từ bi giúp người lao động quản lý tốt các xung đột, giảm thiểu căng thẳng và xây dựng mối quan hệ hài hòa tại nơi làm việc.
Tôn giáo thường cung cấp một nguồn an ủi và động lực tinh thần trong nghịch cảnh giúp củng cố ý chí và khả năng thích ứng. Niềm tin vào một mục đích lớn hơn, sự hỗ trợ từ cộng đồng tôn giáo, và quan điểm về sự vô thường trong Phật giáo hay sự thử thách của Chúa Ki-tô giúp người lao động đối mặt với thất bại và áp lực một cách tích cực hơn, tăng khả năng phục hồi và thích ứng.
Ba là, vai trò của tổ chức tôn giáo trong giáo dục nhân cách của nguồn nhân lực. Các tổ chức tôn giáo không chỉ truyền bá giáo lý mà còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm phát triển phẩm chất nguồn nhân lực.
Ở các cơ sở giáo dục do tôn giáo thành lập như trường học, cơ sở dạy nghề… thường có chương trình giảng dạy lồng ghép sâu sắc giáo dục nhân cách, đạo đức và nhân quyền, giúp học viên phát triển cân bằng giữa tri thức và phẩm chất. Các chương trình dạy nghề nhân đạo như cho người khuyết tật, người sau cai nghiện, trẻ em cơ nhỡ của các tổ chức Phật giáo, Công giáo không chỉ truyền dạy kỹ năng mà còn giúp họ phục hồi phẩm giá và niềm tin vào bản thân, giúp họ tái hòa nhập và trở thành nguồn nhân lực có ích.
Đối với kiến tạo văn hóa doanh nghiệp và tinh thần lãnh đạo, nguyên tắc các nhà lãnh đạo tôn giáo thường là hình mẫu của lòng vị tha và phục vụ, được áp dụng vào mô hình quản trị hiện đại, tạo ra phong cách lãnh đạo đặt lợi ích của nhân viên và cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Nhiều công ty mời các nhà tu hành, học giả tôn giáo làm cố vấn về đạo đức và văn hóa doanh nghiệp, giúp tổ chức duy trì sự liêm chính trong hoạt động kinh doanh.
3. Kết luận
Trong thời đại của sự phát triển khoa học và công nghệ, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành một chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển. Đây là khâu đột phá trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời phải đào tạo cho được đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi về chuyên môn, có đạo đức trong sáng, tận tâm, tận lực vì dân, vì nước.
Tôn giáo không chỉ thuộc về kiến trúc thượng tầng mà còn là một thực thểxã hội, tạo ra “hệ giá trị xã hội”, tạo nên nguồn lực để phát triển xã hội. Vaitrò của tôn giáo là một nguồn lực trong phát triển phẩm chất nguồn nhân lực làthiết yếu và không thể thay thế trong bối cảnh hiện đại. Tôn giáo không chỉ lànơi duy trì đức tin mà còn là trường học đạo đức vĩ đại của nhân loại. Bằngcách cung cấp hệ thống giá trị luân lý, rèn luyện kỷ luật tự giác và xây dựng vốnxã hội, tôn giáo trực tiếp tạo ra những cá nhân có tính liêm chính, trách nhiệmvà khả năng làm việc nhóm cao. Đây là những phẩm chất cốt lõi của một nguồnnhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh và góp phần xây dựng một xã hộiphát triển hài hòa. Việc nhận thức và khai thác đúng đắn nguồn lực này sẽ làchìa khóa cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực bền vững của mọi quốc gia.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Ngô Quốc Đông, Một số giá trị của tôn giáo, https://thanhtra.com.vn/ ngày 12/10/2021.
2. Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Văn Chính, Giáo dục tôn giáo và vai trò của tôn giáo trong lịch sử giáo dục Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2016.
3. Phạm Tuấn Cường, Đạo đức tôn giáo - nguồn lực phát triển xã hội, https://www.quanlynhanuoc.vn/ ngày 01/07/2025.
4. Trần Minh Tơn, Để tôn giáo luôn đồng hành và phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc, https://tapchicongsan.org.vn/ ngày 18/5/2008.
5. ThS. Trần Trung Tuyến, Định hướng phát triển nguồn lực tôn giáo trong bối cảnh hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/ ngày 22/05/2025.
6. Thích Đồng Niệm, Đóng góp của tôn giáo với xã hội hiện nay, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/ ngày 06/01/2024.