Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Vai trò của tôn giáo trong việc đào tạo con người hướng đến chân thiện mỹ

Anh Vũ - 22:20, 27/01/2026

Tôn giáo, niềm tin tôn giáo đã có từ rất lâu khi xã hội loài người hình thành. Dù có khác biệt về giáo luật, giáo lý, nghi thức thực hành tôn giáo nhưng mọi tôn giáo đều hướng con người đến chân - thiện - mỹ và thực tiễn quá trình phát triển luôn có sự hiện diện của tôn giáo. Bài viết làm rõ vai trò của tôn giáo trong việc đào tạo con người hướng đến chân thiện mỹ

1. Kiến tạo đạo đức cá nhân

Những nguyên tắc, chuẩn mực giá trị đạo đức của tôn giáo chỉ được chuyển tải vào nhận thức và hành vi đạo đức cá nhân, hay hành động nhóm thông qua các chức năng tôn giáo. Nếu không có chức năng tôn giáo các giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tôn giáo vẫn chỉ là dạng ý niệm như các hằng số tĩnh, không phát huy các hiệu ứng ra ngoài xã hội. Một trong các chức năng cơ bản để phổ biến đạo đức tôn giáo tới cá nhân, ảnh hưởng tới hành vi cá nhân chính là chức năng giáo dục của tôn giáo.

Bất cứ cá nhân nào gia nhập một tổ chức tôn giáo ngoài nghi lễ nhập đạo đều phải học giáo lý để hiểu về tôn giáo mình theo. Việc này ở các tôn giáo là khác nhau. Với Công giáo, các trẻ em trong gia đình ra đời chưa được bao lâu đã phải làm nghi thức rửa tội nhập đạo. Khi đó đứa bé không biết mình đã trở thành tín hữu, mặc dù, đã ghi vào sổ nhân danh của xứ đạo. Nhưng dần dần lớn lên, các trẻ em đã chứng kiến các sinh hoạt đạo của bố mẹ. Chúng dần dần được dẫn đi lễ tại nhà thờ, tham gia vào lối sống Công giáo từ nhỏ trong môi trường xứ họ đạo. Chúng được chứng kiến các nghi lễ thờ phụng, lối sống đạo đức của cộng đồng. Lớn lên được học các lớp giáo lý Công giáo cho các lứa tuổi cho đến khi trưởng thành. Quá trình giáo dục từ khi lọt lòng trước khi cắp sách đến trường đã làm cho nhiều người Công giáo thấm nhuần các việc đạo đức tôn giáo, cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận đạo đức của cá nhân trong mối quan hệ với người khác, với cộng đồng và xã hội. Cách ghi danh người tín đồ của Công giáo tuy hơi “ép buộc” nhưng về mặt hình thành đạo đức cá nhân, lại mang tính liên tục và bền vững. Trường hợp này cũng giống với tín đồ Islam, cũng tham gia các nghi thức tôn giáo từ nhỏ và thấm nhuần các nguyên tắc đạo đức mà Thượng đế chỉ dạy. Cả Công giáo và Isam người tín đồ tiếp nhận các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tôn giáo trước cả khi học đạo đức xã hội tại nhà trường. Bởi vậy một số ý kiến cho rằng, nhóm tôn giáo độc thần có ảnh hưởng đạo đức tôn giáo đến đạo đức cá nhân mạnh và bền vững.

Với đạo Tin Lành được cho là dân chủ hơn khi thanh thiếu niên được cho là làm lễ nhập đạo khi nhận thức đã có, khoảng 13-15 tuổi. Nhưng với người Tin Lành, trẻ em cũng được gia đình định hướng các giá trị tôn giáo từ nhỏ, nên dù nghi lễ nhập đạo muộn cũng đã được trải nghiệm ít nhiều các giá trị đạo đức của tôn giáo mình. Trường hợp này khác với Phật giáo, nhiều tín đồ nhập đạo khi tuổi đã lớn và đã mang trong mình các giá trị đạo đức thế tục trước khi tiếp nhận các giá trị đạo đức Phật giáo.

Ngoài ra việc giáo dục nhân bản của con người thường nhấn mạnh ở khía cạnh đạo đức. Đạo đức con người tốt là cái gốc để mọi tín đồ có thể có một sự đề kháng tốt với các tệ nạn xã hội. Khía cạnh giáo dục con người hiển hiện rõ nhất là ở các lớp mầm non, mẫu giáo do một số dòng tu đảm nhiệm. Các chức sắc là những người có uy tín trong cộng đồng tín đồ thường xuyên khuyên nhủ giáo dân trong các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội.

2. Xây dựng các chuẩn mực ứng xử

Mỗi tôn giáo đều xây dựng hệ thống đạo đức riêng biệt. Dù khác nhau về hình thức nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là điều chỉnh hành vi con người theo hướng thiện. Các giá trị đạo đức như lòng trung thực, công bằng, bác ái và tinh thần trách nhiệm đều được các tôn giáo đề cao. Trong Phật giáo ngũ giới, thiện thập là nền tảng quan trọng giúp con người sống yêu thương, khoan dung. Ngũ giới được gọi là kho báu của đạo hạnh, gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thiện thập gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không tham lam, không thù hận, không si mê, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu. Thực hành trọn vẹn các giới này được gọi là hoàn thiện về đạo đức. Những chuẩn mực trên tuy phát xuất từ nhà Phật nhưng là nền tảng cho một xã hội đạo đức. Đó là nền đạo đức dựa trên hành động thiết thực, dựa trên nguyên lý duyên sinh, vô ngã.

Một trong những nguyên tắc cốt lõi của Ki-tô giáo là luật yêu thương, là điều răn lớn nhất và quan trọng nhất. Luật yêu thương này hướng dẫn người Kitô hữu đối xử với nhau bằng tình yêu thương và lòng khoan dung và cũng là nền tảng cho mọi hành động và quyết định trong đời sống đạo đức. Ki-tô giáo dạy về bác ái, tha thứ và khiêm nhường như những giá trị cốt lõi của đời sống tinh thần. Điều răn lớn nhất và quan trọng nhất của Ki-tô giáo là yêu thương. Trước hết là “yêu thương Chúa bằng cả trái tim, cả linh hồn và cả trí khôn của mình”. Tiếp đó là yêu thương những người xung quanh như yêu chính bản thân mình. Ki-tô giáo đặc biệt chú trọng đến lòng khoan dung và tha thứ. Theo lời Chúa Giê-su, việc tha thứ cho những người đã làm hại mình là một phần quan trọng của đức tin. “Hãy tha thứ cho những kẻ làm hại bạn”.

Trong Hồi giáo, “Năm trụ cột” được xem như những bổn phận tôn giáo cốt lõi, là nền tảng để mọi tín đồ tuân thủ. Những trụ cột này phản ánh mối quan hệ hai chiều: giữa con người với Thượng đế và giữa con người với cộng đồng Hồi giáo. Hồi giáo quy định về số lần cầu nguyện mỗi ngày; về tỷ lệ phải bố thí (2,5% thu nhập); về tháng Ramadan; về hành hương đến Mecca mà Hajj trung tâm ở Ka’aba (ngôi đền hình khối lập phương), là hướng mà toàn bộ tín đồ trên thế giới quay về khi cầu nguyện. Các quy định trên nhằm giáo dục tính kỷ luật, lòng chia sẻ và công bằng xã hội, lòng kính sợ và trách nhiệm xã hội. Những giá trị cốt lõi của Hồi giáo: hòa bình, từ bi, công bằng tiếp tục tỏa sáng trong đời sống hiện đại.

Bên cạnh đó, mỗi cộng đồng tôn giáo gắn với từng dân tộc cũng bổ sung một số nội dung về nghĩa vụ trong ứng xử. Cộng đồng Phật giáo Khmer vùng Nam Bộ có quy định việc báo hiếu cha mẹ là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người. Chăm sóc cha mẹ, giúp đỡ, làm thay cho cha mẹ, giữ gìn nền nếp gia đình, bảo quản tốt tài sản thừa tự, tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã qua đời thông qua hàng loạt các nghi thức truyền thống là bổn phận người con. Những quy định đó đã để lại những giá trị to lớn trong đời sống xã hội mang tính giáo dục cao; có ý nghĩa cố kết cộng đồng, tạo nên truyền thống đặc sắc của cộng đồng Phật giáo Khmer.

Đạo đức tôn giáo giúp con người nhận thức rõ hơn về bản thân, về ý nghĩa cuộc sống và về những giá trị cao đẹp. Những lời dạy trong kinh, luật, và các nghi lễ tôn giáo giúp con người rèn luyện đức tính khiêm nhường, nhẫn nại, yêu thương và bao dung. Đạo đức tôn giáo có cấu trúc bền vững, xuyên suốt lịch sử. Dù khác biệt về thần học hay hình thức truyền đạt, các tôn giáo đều gặp nhau ở một điểm chung: khuyến khích con người sống hướng thiện, vị tha và có trách nhiệm với cộng đồng. Trong xã hội hiện đại, việc tích hợp các giá trị đạo đức tôn giáo vào giáo dục và đời sống xã hội là một cách để củng cố nền tảng nhân cách, giảm thiểu tha hóa đạo đức và tái thiết niềm tin xã hội.

3. Điều chỉnh hành vi cá nhân

Cá nhân nhận thức được các bài học đạo đức từ giáo lý của tôn giáo mình để hình thành ý thức đạo đức cá nhân. Tuy nhiên cá nhân trong quá trình hoạt động xã hội không chỉ có tiếp nhận duy nhất các nguyên tắc chuẩn mực đạo đức tôn giáo mà tiếp nhận cả các giá trị, tiêu chuẩn, đạo đức thế tục. Hơn nữa trong các tình huống đạo đức cụ thể, họ luôn phải đưa ra những quyết định hành vi đạo đức. Người Công giáo, Tin Lành, Islam kết hôn với người ngoài tôn giáo của họ, việc này về mặt luật pháp không có gì trở ngại nhưng trong phạm vi đạo đức của một gia đình hay cộng đồng tôn giáo có khi lại trở thành vấn đề nếu người ngoài tôn giáo đó không gia nhập Công giáo, Tin Lành hay Islam giáo. Khi đó cá nhân thành viên muốn kết hôn sẽ được gia đình, chức sắc tham vấn trên các nguyên tắc đạo đức của tôn giáo họ. Kết quả là hầu hết các thành viên đó đều thuyết phục người mà họ muốn kết hôn gia nhập tôn giáo của họ. Ở đây cá nhân đó đã bị thiết chế tôn giáo điều chỉnh để giữ họ lại trong khung nhận thức tôn giáo, trong lối sống tôn giáo và các chuẩn mực đạo đức tôn giáo. Tất nhiên sự điều chỉnh sẽ là khác nhau với mỗi tôn giáo cụ thể.

Điều chỉnh ở đây muốn đề cập tới các quy tắc của thiết chế tôn giáo có tác động tới hành vi các cá nhân tín đồ sao cho phù hợp với các giá trị chân lý, luân lý đạo đức tôn giáo quy định trong kinh điển, giáo lý. Việc điều chỉnh này thực chất là quá trình bảo toàn các giá trị tôn giáo cũng là quá trình diễn ra sự va chạm, xung đột giữa giá trị tôn giáo cũng như thiết chế của nó với các hệ giá trị và thiết chế xã hội khác. Các cơ chế điều chỉnh thường dựa vào một số dạng thức sau: Dùng kỷ luật để quản lý và điều chỉnh đối với các tín đồ, chức sắc trong việc sai phạm luân lý hoặc tín lý; Dùng áp lực của gia đình, cộng đồng, chức sắc… đối với các trường hợp không tuân thủ các quy định của đạo đức tôn giáo.

4. Thúc đẩy sự hài hòa xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững

Trong giáo lý của nhiều tôn giáo, nhất là tôn giáo độc thần thường cho mình là toàn năng, là duy nhất, là thiên sứ. Các tôn giáo khác là tà đạo cần loại bỏ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột sắc tộc, tôn giáo trên thế giới. Nhưng, chính những giá trị mà đạo đức tôn giáo hướng đến như đã khái quát ở trên đã khuyến khích sự hòa hợp, đoàn kết và tôn trọng sự khác biệt của các tôn giáo. Các tôn giáo đều rất mạnh tới việc làm công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ những người nghèo khổ khó khăn, điều trị các bệnh nhân AIDS, phong… Việc này cũng có tác động nhiều tới các đạo đức cá nhân của thành viên tôn giáo trong cộng đồng tôn giáo và cộng đồng xã hội. Sự tham gia của mỗi cá nhân vào công việc bác ái từ thiện của các tổ chức tôn giáo sẽ làm thúc đẩy tình yêu thương con người, chia sẻ cảm thông với những người yếu thế, không gặp may mắn trong đời sống.

Sự ra đời của Đại hội Tôn giáo thế giới trong những thập niên gần đây và được tổ chức 05 năm một lần, hay đại hội các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới và truyền thống được tổ chức ba năm một lần là sự kiện thể hiện rõ nhất xu hướng đối thoại giữa các tôn giáo. Chủ đề của các đại hội tôn giáo thường xoay quanh vai trò của các nhà lãnh đạo tôn giáo trong việc xây dựng một thế giới hòa bình, khoan dung và hợp tác, hướng tới mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, văn hóa và tôn giáo mang tính xây dựng.

Từng nỗ lực, từng cố gắng từ các quốc gia, các cộng đồng quốc tế đã góp phần không nhỏ trong việc hạn chế sự xung đột sắc tộc, tôn giáo trên quy mô toàn cầu. Không chỉ định hướng hành vi, đạo đức tôn giáo còn có khả năng nuôi dưỡng động lực nội tại của con người để sống đạo đức một cách bền vững. Việc gắn kết đạo đức với niềm tin thiêng liêng giúp con người duy trì lòng kiên định và sẵn sàng hy sinh vì điều thiện, từ đó, thúc đẩy việc tự rèn luyện đạo đức cá nhân. Trong bối cảnh mới, thông qua việc khuyến khích lối sống tiết kiệm, bảo vệ môi trường và quan tâm đến các vấn đề xã hội; khuyến khích con người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, đạo đức tôn giáo góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

5. Kết luận

Tôn giáo là một trường học vĩ đại đào tạo nên nhân tính của con người. Bằng cách cung cấp một chân lý về bản chất cuộc sống, thiết lập một thiện pháp về đạo đức và hành vi và hướng đến một cái mỹ của sự hài hòa nội tâm và vũ trụ, các truyền thống tôn giáo đã và đang là một lực lượng không thể thiếu trong việc kiến tạo nên những cá nhân có chiều sâu tâm hồn, có trách nhiệm xã hội và có ý thức thẩm mỹ cao. Trong bối cảnh đời sống hiện đại đầy biến động, vai trò của tôn giáo trong việc đào tạo con người hướng đến chân - thiện - mỹ càng trở nên quan trọng.

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Mai (Chủ biên) (2010), Tôn giáo và đạo đức, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia.

2. Nguyễn Duy Hinh (2005), Đại cương Triết học Tôn giáo, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội.

3. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (2001), Tìm hiểu Triết học Mác - Lê-nin về tôn giáo, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia.

4. Trần Văn Đoàn (2000), Triết học Luân lý, Hà Nội, Nxb.

Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Nguyễn Thanh, Vai trò của tôn giáo trong việc giáo dục lối sống đạo đức cho thanh niên hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.

6. Thích Nhật Minh, Vai trò của Giáo hội trong việc giáo dục lối sống cho thanh niên, https://tapchinghiencuuphathoc.vn/ ngày 12/9/2022.