Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn học nghệ thuật

Âm nhạc dân gian - Chiều sâu văn hóa của con người Tây Bắc

Nguyễn Duy Dũng - Khánh Chi - 17:09, 20/05/2026

(DTTG) - Giữa đại ngàn Tây Bắc, nơi những dãy núi nối tiếp nhau như sóng trùng điệp, nơi mây trắng bảng lảng quanh sườn non và những bản làng nép mình bên triền núi, âm nhạc dân gian từ bao đời nay vẫn ngân lên như hơi thở của núi rừng. Đó không chỉ là tiếng hát, tiếng khèn, tiếng sáo hay nhịp trống vang vọng trong đêm hội, mà còn là linh hồn văn hóa, là ký ức cộng đồng được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Muốn hiểu tâm hồn đồng bào vùng cao, hãy lắng nghe tiếng khèn Mông giữa phiên chợ, tiếng hát Then của người Tày bên bếp lửa hay điệu xòe Thái rộn ràng trong đêm hội bản…
Muốn hiểu tâm hồn đồng bào vùng cao, hãy lắng nghe tiếng khèn Mông giữa phiên chợ, tiếng hát Then của người Tày bên bếp lửa hay điệu xòe Thái rộn ràng trong đêm hội bản…

Ở Tây Bắc, âm nhạc không đứng riêng như một loại hình nghệ thuật để thưởng thức. Âm nhạc hiện diện trong đời sống thường ngày, đi cùng con người từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành, dựng vợ gả chồng rồi trở về với tổ tiên. Mỗi thanh âm đều mang theo câu chuyện của bản làng, nỗi niềm của con người và tình yêu tha thiết với quê hương, nguồn cội.

Người ta thường nói, muốn hiểu tâm hồn đồng bào vùng cao, hãy lắng nghe tiếng khèn Mông giữa phiên chợ, tiếng hát Then của người Tày bên bếp lửa hay điệu xòe Thái rộn ràng trong đêm hội bản… Bởi trong những thanh âm ấy có cả lịch sử, phong tục, tín ngưỡng và khát vọng sống của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc.

Một chiều đầu tháng năm ở phường Mộc Châu (tỉnh Sơn La), giữa triền đồi phủ màu xanh ngút mắt, tiếng sáo Mông bất chợt vang lên từ lưng núi xa khiến không gian như chùng lại. Âm thanh ấy vừa tha thiết, vừa da diết, như gọi mây về bên sườn núi, gọi người đi xa nhớ về bản cũ.

Người Mông từ lâu đã xem tiếng khèn, tiếng sáo như tiếng nói của tâm hồn. Không cần nhiều lời, chỉ qua vài làn điệu, họ có thể gửi gắm nỗi nhớ, niềm thương, lời tỏ tình hay cả những tâm sự sâu kín nhất.

Trong những phiên chợ vùng cao ở Bắc Hà, Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), Đồng Văn hay Mèo Vạc (tỉnh Tuyên Quang), hình ảnh những chàng trai Mông mang khèn xuống chợ đã trở thành nét đẹp đặc trưng của văn hóa Tây Bắc. Tiếng khèn vang lên giữa không gian mờ sương, hòa cùng sắc váy áo rực rỡ của các cô gái vùng cao, tạo nên bức tranh văn hóa vừa mộc mạc vừa đầy sức sống.

Nghệ nhân chế tác khèn Mông Thào Cáng Súa ở bản Sáng Nhù, xã Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai) từng chia sẻ: “Người Mông còn tiếng khèn là còn hồn dân tộc”.

Câu nói ấy nghe giản dị nhưng chứa đựng cả nỗi lo và niềm tự hào của đồng bào nơi đây. Bởi giữa nhịp sống hiện đại hôm nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Những thanh niên biết thổi khèn, biết chế tác nhạc cụ dân tộc ngày càng ít dần. Không ít bản làng giờ chỉ còn người già nhớ được những làn điệu cổ.

Nhưng cũng chính trong sự đổi thay ấy, âm nhạc dân gian Tây Bắc lại đang được nhiều cộng đồng âm thầm gìn giữ như giữ lấy phần hồn của dân tộc mình.

Ở các bản người Thái tại tỉnh Sơn La, Điện Biên hay Lai Châu,… những điệu xòe truyền thống vẫn được lưu giữ qua từng mùa lễ hội. Khi đêm xuống, bên ánh lửa bập bùng giữa sân bản, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên rộn rã, những vòng xòe lại nối dài trong tiếng cười nói ấm áp.

Điệu xòe của người Thái không đơn thuần là một điệu múa dân gian. Đó là biểu tượng của tinh thần đoàn kết cộng đồng, của sự gắn bó giữa con người với con người. Trong vòng xòe ấy không có khoảng cách giàu nghèo, không phân biệt người địa phương hay du khách phương xa. Chỉ cần nắm tay nhau là đã trở thành một phần của vòng xòe đại đoàn kết.

Có lẽ vậy mà nghệ thuật Xòe Thái đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng điều làm nên sức sống bền chặt, gắn kết của xòe không chỉ nằm ở danh hiệu quốc tế, mà ở chỗ điệu múa ấy vẫn đang sống trong đời sống hằng ngày của đồng bào.

Những đứa trẻ người Thái lớn lên cùng tiếng trống hội bản. Những cô gái trẻ học múa xòe từ bà, từ mẹ như một cách tiếp nhận văn hóa truyền thống bằng chính nhịp sống của cộng đồng.

Nhạc sĩ Nông Quốc Bình, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam chia sẻ: Nếu tiếng khèn Mông mang âm hưởng của núi đá và gió ngàn, thì hát Then của người Tày, Nùng lại giống như dòng suối mềm mại chảy qua tâm hồn con người Tây Bắc.

Tiếng đàn tính ngân lên sâu lắng giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng khiến lòng người dịu lại. Hát Then không chỉ là nghệ thuật trình diễn dân gian, mà còn gắn với tín ngưỡng, đời sống tâm linh và tri thức dân gian của cộng đồng người Tày, Nùng.

Trong mỗi câu Then có lời răn dạy con người sống hướng thiện, yêu thương nhau, biết quý trọng cội nguồn và gìn giữ bản sắc dân tộc.

Ngày nay, nhiều nghệ nhân cao tuổi vẫn miệt mài truyền dạy hát Then cho lớp trẻ. Họ hiểu rằng, nếu một ngày tiếng đàn tính không còn vang lên nơi bản làng, thì một phần ký ức văn hóa cũng sẽ dần mất đi.

Đặc biệt là trong dòng chảy hiện đại, âm nhạc dân gian Tây Bắc không bị “đóng khung” trong bảo tàng hay sân khấu biểu diễn, mà đang dần trở thành nguồn lực phát triển du lịch cộng đồng và sinh kế cho người dân vùng cao.

Ở nhiều bản du lịch cộng đồng tại Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Mai Châu (tỉnh Phú Thọ) hay tỉnh Tuyên Quang, những đêm diễn văn nghệ dân gian đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Du khách đến Tây Bắc hôm nay không chỉ để ngắm ruộng bậc thang hay săn mây trên đỉnh núi. Họ còn muốn được ngồi bên bếp lửa nghe tiếng khèn Mông, xem múa xòe Thái, thưởng thức hát Then hay hòa mình vào những đêm hội bản đậm bản sắc.

Chính âm nhạc dân gian đã tạo nên chiều sâu văn hóa cho du lịch vùng cao.

Nhiều nghệ nhân từng sống bằng nương rẫy nay có thêm thu nhập từ việc biểu diễn, truyền dạy văn hóa dân gian và làm du lịch cộng đồng. Nhiều thanh niên vùng cao bắt đầu học lại nhạc cụ dân tộc, học hát dân ca để phục vụ khách du lịch và cũng để giữ gìn văn hóa dân tộc mình.

Đó là tín hiệu đáng mừng trong hành trình bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy vậy, phía sau những thanh âm đẹp đẽ ấy vẫn còn không ít trăn trở.

Không ít nghệ nhân dân gian giờ đã già yếu. Có những làn điệu cổ chỉ còn vài người nhớ được. Nhiều loại nhạc cụ truyền thống đang dần ít người biết chế tác. Trong khi đó, tác động của đời sống hiện đại khiến lớp trẻ ngày càng ít thời gian gắn bó với văn hóa truyền thống.

Có những bản làng mà tiếng nhạc hiện đại đã át dần tiếng khèn, tiếng sáo dân tộc. Nhiều thanh niên thuộc lòng các bài hát trên mạng xã hội nhưng lại không biết một làn điệu dân ca quê mình.

Bởi vậy, giữ gìn âm nhạc dân gian hôm nay không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa, mà cần sự chung tay của cả cộng đồng.

Điều quan trọng nhất là làm sao để âm nhạc dân gian tiếp tục sống trong đời sống thực tế chứ không chỉ tồn tại trong các lễ hội hay những dịp biểu diễn mang tính hình thức.

Muốn vậy, cần tạo điều kiện để nghệ nhân truyền dạy cho thế hệ trẻ; đưa âm nhạc dân gian vào trường học, hoạt động cộng đồng; gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống người dân.

Bởi khi người dân thấy văn hóa có thể giúp họ cải thiện cuộc sống, họ sẽ có thêm động lực để gìn giữ.

Một đêm ở bản làng Tây Bắc, khi sương núi bắt đầu buông xuống, tiếng khèn lại vang lên giữa khoảng trời thăm thẳm. Âm thanh ấy len qua mái nhà sàn, qua những triền núi mờ xa, chạm vào lòng người bằng sự mộc mạc và chân thành rất riêng của núi rừng.

Có lẽ, điều khiến âm nhạc dân gian Tây Bắc sống mãi không chỉ nằm ở giai điệu, mà ở chỗ nó chứa đựng tâm hồn của cả một cộng đồng.

Trong từng tiếng sáo gọi bạn tình, từng điệu xòe đoàn kết, từng câu Then sâu lắng hay tiếng đàn môi réo rắt nơi chợ phiên, người ta nghe thấy nhịp đập của núi rừng, của bản làng và của những con người đã bao đời gắn bó với đại ngàn.

Trong quá trình phát triển và hội nhập hôm nay, những thanh âm ấy vẫn đang âm thầm chảy trong mạch nguồn văn hóa dân tộc, như dòng suối không bao giờ cạn giữa đại ngàn Tây Bắc.

Và chừng nào tiếng khèn còn ngân giữa phiên chợ vùng cao, tiếng hát Then còn vang bên bếp lửa, vòng xòe còn nối dài trong đêm hội bản, thì chừng ấy hồn cốt văn hóa Tây Bắc vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn giữa dòng chảy của thời gian./.