Sắc lệnh số 58 ngày 03/5/1946 thành lập Bộ Nội vụ do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành. Trong cơ cấu Bộ Nội vụ có Nha Dân tộc thiểu số - tiền thân của cơ quan công tác dân tộc ngày nay (Ảnh Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động)Nghị định số 359 ngày 09/9/1946 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ xác định: “Nha Dân tộc thiểu số có nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các DTTS trong toàn cõi Việt Nam, để củng cố, trên nguyên tắc bình đẳng sự đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”.
Giám đốc Nha Dân tộc thiểu số là đồng chí Hoàng Văn Phùng.
Nha Dân tộc thiểu số thành lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vùng dân tộc và miền núi trở thành căn cứ địa vững chắc cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Năm 1947, thành lập Tổ Nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương, tiếp tục nhiệm vụ của Nha Dân tộc thiểu số với phương hướng hoạt động công tác dân tộc phù hợp với tình hình mới. Tổ Nghiên cứu dân tộc do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách và chỉ đạo. Giai đoạn này, cơ quan công tác dân tộc trở thành một bộ phận quan trọng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, vừa là tổ chức tham mưu về dân tộc của Chính phủ kháng chiến; một mặt vận động đồng bào các dân tộc huy động sức người, sức của ủng hộ kháng chiến, mặt khác vận động các tộc trưởng, tù trưởng, phìa tạo... đi theo kháng chiến, đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Bộ phận nghiên cứu chính sách dân tộc bước đầu có những tổng kết hoạt động thực tiễn, giúp Trung ương có những điều chỉnh nội dung, phương pháp công tác dân tộc, đặc biệt là chuẩn bị cho việc xác định đường lối, chủ trương của Đảng về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc tại Đại hội II (tháng 02/1951), Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Chính sách DTTS của Đảng ta hiện nay” (tháng 8/1952). Đây là những văn kiện đề cập đến công tác dân tộc được thực thi trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự nhằm phục vụ cao nhất cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Phụ nữ dân tộc X’tiêng giã gạo nuôi quân trong kháng chiến chống Mỹ (Ảnh tư liệu)Từ sau năm 1954, công tác dân tộc được tổ chức thực hiện với những nội dung và hình thức hoạt động mới phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Ở miền Nam, cơ quan công tác dân tộc được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục. Các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ vận động nhân dân các dân tộc đoàn kết chống lại âm mưu chia rẽ với chính sách “chia để trị” của địch; chống lại cái gọi là Mặt trận Fulrô đòi tự trị giả hiệu; chống lại việc dồn dân lập “ấp chiến lược”... Các tỉnh miền Tây Nam Bộ, thành lập các Ban Khmer vận của tỉnh và một số huyện, đã tuyên truyền vận động bà con dấy lên phong trào chống Mỹ - Ngụy rộng khắp, bằng các cuộc biểu tình, đồng khởi, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, hoạt động bí mật với công khai và bán công khai... tạo nên phong trào cách mạng trong đồng bào Khmer Nam Bộ, góp phần đáng kể vào phong trào cách mạng ở miền Nam. Các tỉnh duyên hải Trung Bộ đã vận động các DTTS xây dựng các căn cứ địa vững chắc, tổ chức đồng bào trực tiếp chiến đấu đánh địch như ở Bác Ái, Phước Chiến... hình thành các buôn làng kiên cường, lập nhiều chiến công to lớn, nhiều thắng lợi vẻ vang, đoàn kết các dân tộc được tăng cường gắn bó trong đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Công tác dân tộc ở miền Bắc trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng chiến chống Mỹ cứu nước có những điều chỉnh về nội dung hoạt động và bộ máy tổ chức: Đầu năm 1955, “Thành lập Tiểu Ban Dân tộc ở Trung ương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương. Về mặt chính quyền, bộ máy DTTS trực thuộc với Thủ tướng Phủ và tạm thời đặt ở Ban Nội chính”. Từ đây, cơ quan dân tộc có hai chức năng: Tham mưu cho Trung ương Đảng về vấn đề dân tộc và giúp Chính phủ phụ trách một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Tiểu Ban Dân tộc Trung ương do đồng chí Bùi San làm Trưởng Tiểu Ban.
Năm 1959, thành lập Ủy ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ và có quyền hạn trách nhiệm ngang Bộ. Thời kỳ 1959-1960, đồng chí Chu Văn Tấn là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ.
Năm 1961, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc được quy định cụ thể hơn tại Nghị định số 133/CP ngày 29/9/1961 của Chính phủ: “Ủy ban Dân tộc là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ, tạo điều kiện cho các DTTS cùng nhân dân toàn quốc tiến nhanh về mọi mặt lên chủ nghĩa xã hội”. Thời kỳ 1960-1976, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc là đồng chí Lê Quảng Ba.
Sau ngày Nam - Bắc sum họp một nhà, non sông thu về một mối, công tác dân tộc triển khai trên phạm vi cả nước với những nội dung và yêu cầu mới: Tập trung ổn định sản xuất và đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội do hậu quả chiến tranh để lại. Một số địa bàn vùng dân tộc cần có những yêu cầu chỉ đạo, cụ thể (như công tác dân tộc ở vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, vùng đồng bào Chăm, vùng Tây Nguyên...); tiếp tục đẩy mạnh công tác định canh định cư, theo dõi kiểm tra việc thực hiện các chính sách xã hội (ưu tiên cấp thuốc chữa bệnh, muối, dầu hỏa... đối với vùng cao); tham mưu giúp Chính phủ ban hành các chính sách miễn giảm thuế, nghĩa vụ... đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết tự túc lương thực tại chỗ... Đồng chí Vũ Lập là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thời kỳ 1976-1979.
Năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định số 38/QĐ-TW, ngày 14/5/1979 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Ban Dân tộc Trung ương và của các tỉnh: “Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương (hoặc cấp ủy địa phương) về vấn đề dân tộc ít người”.
Như vậy là từ năm 1955, hai cơ quan làm công tác dân tộc của Trung ương Đảng và của Chính phủ hầu như thống nhất trong một tổ chức, nhất là từ năm 1959 nâng lên Ủy ban Dân tộc của Chính phủ (cơ quan ngang Bộ) với Ban Dân tộc Trung ương, cùng một trụ sở (số 80 Phan Đình Phùng, Hà Nội), có hai con dấu của cơ quan Đảng và cơ quan Chính phủ, thực hiện hai chức năng: Tham mưu cho Trung ương Đảng và quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.
Từ năm 1979-1982, đồng chí Hoàng Văn Kiểu là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ. Thời kỳ 1982-1989, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương là đồng chí Hoàng Trường Minh. (Năm 1987, có Quyết định số 78/HĐNN ngày 16/02/1987 của Hội đồng Nhà nước giải thể Ủy ban Dân tộc của Chính phủ).
Để tăng cường tổ chức cơ quan dân tộc, ngày 25/8/1988, Ban Bí thư Trung ương ra Quyết định số 62/QĐ-TW về chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc Trung ương, đã xác định: “Ban Dân tộc Trung ương có chức năng làm tham mưu tổng hợp cho Trung ương Đảng về công tác DTTS”
Từ năm 1989-1992, đồng chí Nông Đức Mạnh là Trưởng Ban Dân tộc Trung ương. Ban Dân tộc Trung ương đã cùng các cơ quan hữu quan nghiên cứu, chuẩn bị nội dung để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 về "Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi". Đây là văn kiện quan trọng của Đảng, mở đường cho sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc.
Nhằm tăng cường sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ đối với công tác dân tộc và thực hiện Quyết định 72/HĐBT, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 147/CT ngày 11/5/1990 thành lập Văn phòng Miền núi và Dân tộc, để giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo công tác miền núi và dân tộc. Văn phòng Miền núi và Dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Văn phòng Miền núi và Dân tộc do đồng chí Bộ trưởng chuyên trách công tác miền núi và dân tộc trực tiếp làm Chủ nhiệm. Đồng chí Hoàng Đức Nghi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Miền núi và Dân tộc từ năm 1990 và sau đó là Bộ trưởng - Chủ nhiệm UBDT&MN từ năm 1992-2002.
Năm 1992, Bộ Chính trị quyết định hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Văn phòng Miền núi và Dân tộc để xây dựng thành cơ quan Ủy ban Dân tộc và miền núi (UBDT&MN). Lập Ban Cán sự Đảng Ủy ban Dân tộc và Miền núi làm nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về công tác dân tộc và miền núi.
Năm 2002, theo Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI, UBDT&MN trở lại với tên gọi Ủy ban Dân tộc (như năm 1959).
Ngày 16/5/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2003/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc: Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; Quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Ủy ban quản lý theo quy định của pháp luật.
Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo (ngày 01/3/2025)Năm 2025, căn cứ Nghị quyết số 56-NQ/TW ngày 25/11/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Kết luận số 09-KL/BCĐ ngày 24/11/2024 của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18- NQ/TW, thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo trên cơ sở Ủy ban Dân tộc tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo của Bộ Nội vụ.
Ngày 01/3/2025, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tổ chức “Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo và Quyết định về công tác cán bộ”. Việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo; mang ý nghĩa thúc đẩy hoạt động, phong trào trong dân tộc và tôn giáo nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước. Đồng chí Đào Ngọc Dung được bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo nhiệm kỳ 2021 - 2026 Đào Ngọc Dung và Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo nhiệm kỳ 2026 - 2031 Nguyễn Đình Khang trao biên bản bàn giao nhiệm vụNgày 8/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031. Đồng chí Nguyễn Đình Khang - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo nhiệm kỳ 2021-2026 được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo nhiệm kỳ 2026-2031./.