Sông Mã bắt đầu từ những cánh rừng của Sơn La trước khi chảy về Thanh Hóa rồi đổ ra biểnSơn La có một lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có: sản vật bản địa đã hình thành trên nền tảng khí hậu, địa hình, đất đai và kinh nghiệm canh tác được tích lũy qua nhiều thế hệ. Từ xoài, nhãn, mận hậu, chanh leo, chuối, sơn tra đến cà phê Arabica, chè, mía, các loại dược liệu và sản phẩm chăn nuôi, tỉnh từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Năm 2026, toàn tỉnh có trên 85.000 ha cây ăn quả và cây sơn tra, hơn 33.600 ha cà phê Arabica, gần 9.000 ha mía nguyên liệu cùng hàng nghìn héc-ta chè Shan tuyết và chè chất lượng cao.
Thực tế cho thấy, diện tích cây ăn quả lớn chưa đồng nghĩa với việc người dân có thu nhập cao; sản lượng lớn cũng chưa tự động tạo ra giá trị lớn. Điểm quyết định nằm ở cách tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng chế biến, thương hiệu và thị trường. Chính ở khoảng cách đó, Chương trình MTQG 417 có thể trở thành một lực đẩy mới đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Sơn La.
Theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030, mục tiêu của chương trình không chỉ là xây dựng nông thôn mới hay giảm tỷ lệ nghèo, mà còn phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, nhóm dân cư. Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu tăng thu nhập bình quân người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt khoảng một nửa mức bình quân chung cả nước; tỷ lệ nghèo đa chiều ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.
Nhãn Sông Mã (tỉnh Sơn La) đang được chuyển đổi trồng trên các chân đất đồi dốcNhư vậy, giảm nghèo và phát triển sản xuất không thể tách rời. Muốn giảm nghèo bền vững phải tạo được sinh kế; muốn sinh kế có sức sống phải dựa vào lợi thế của từng địa bàn; muốn sản vật trở thành sinh kế có thu nhập cao hơn thì phải tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Đây chính là ý nghĩa sâu sắc, nhân văn của việc phát huy nguồn lực nội sinh. Nguồn lực nội sinh không chỉ là đất đai hay sản vật. Đồng thời, đây còn là kinh nghiệm canh tác, kỹ năng chế biến truyền thống, tri thức về cây thuốc, văn hóa ẩm thực, nghề thủ công, khả năng liên kết cộng đồng và tinh thần cần cù của người dân. Nếu chính sách chỉ đưa vốn và giống đến hộ dân mà không đồng thời nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, thì nguồn lực ấy khó chuyển thành sức mạnh kinh tế. Ngược lại, khi người dân được hỗ trợ tiếp cận vốn, khoa học kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, hạ tầng sản xuất, thông tin thị trường và liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp, những lợi thế vốn có sẽ được “đánh thức” theo một cách khác.
Nhãn Sơn La đã trở thành một nông sản nổi tiếng, có sức tiêu thụ lớn ở miền Bắc và cả nướcBám sát mục tiêu của Chương trình MTQG 417, Sơn La đã ban hành kế hoạch số 60/KH-UBND ngày 16/03/2026 về xúc tiến thương mại, xuất khẩu hàng hóa và phát triển thương mại điện tử. Theo đó, Sơn La đặt mục tiêu xuất khẩu hàng hóa đạt 240 triệu USD/năm 2026, trong đó nhóm nông sản đạt 235 triệu USD. Riêng xoài được đặt mục tiêu xuất khẩu 11.200 tấn, trị giá 8,22 triệu USD; nhãn 5.300 tấn, trị giá 23,95 triệu USD; chanh leo 1.500 tấn, trị giá 1,52 triệu USD; chuối 9.000 tấn, trị giá 2,7 triệu USD. Đối với cà phê, kế hoạch đặt mục tiêu xuất khẩu 34.500 tấn, trị giá 104 triệu USD.
Những con trên cho thấy, sản vật tỉnh Sơn La đã vượt khỏi phạm vi đặc sản địa phương để tham gia thị trường rộng hơn. Nhưng cũng từ đây đặt ra yêu cầu mới đối với tỉnh đó là, không thể chỉ mở rộng diện tích và sản lượng; phải nâng chất lượng của từng mắt xích trong chuỗi.
Mùa thu hoạch mận hậu (ở tỉnh Sơn La) thường được kéo dài từ tháng 3 đến hết tháng 7 và được chia làm 3 giai đoạnTheo đó, để đáo ứng được yêu cầu mới, Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành nghị quyết số 14/2026/NQ-HĐND ngày 21/7/2026 về việc Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh. Nghị quyết xác định, ưu tiên nguồn lực cho các xã, bản đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời dành nguồn lực cho các dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, Chương trình OCOP, du lịch nông thôn và phát triển nông nghiệp bền vững gắn với công nghiệp chế biến. Đây là một định hướng rất quan trọng để đưa nguồn lực công đến đúng nơi có điểm nghẽn, hướng dòng vốn vào khả năng tạo ra giá trị kinh tế lâu dài.
Nghị quyết đã đem lại nhiều ý nghĩa khi tỉnh Sơn La đang chuyển mạnh từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Nhiều sản phẩm đã được chế biến, đóng gói, truy xuất nguồn gốc và phát triển thành OCOP. Năm 2026, tỉnh có 258 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận OCOP, trong đó 210 sản phẩm còn thời hạn; gồm một sản phẩm 5 sao, 59 sản phẩm 4 sao và 150 sản phẩm 3 sao.
Nông dân sẽ là hạt nhân trong quá trình đổi mới sáng tạo của nông nghiệp Sơn LaThương hiệu Tỏi Phù Yên (xã Phù Yên, tỉnh Sơn La) là một ví dụ điển hình cho hướng đi này của tỉnh Sơn La. Thay vì chỉ bán tỏi khô, Hợp tác xã Sản xuất và kinh doanh tỏi Phù Yên đã đầu tư máy lên men tỏi đen, máy sấy, hút chân không và đóng gói với tổng kinh phí khoảng 200 triệu đồng; đồng thời hướng tới nâng hạng sản phẩm và mở rộng tiêu thụ qua các nền tảng số. Câu chuyện ấy cho thấy giá trị không chỉ nằm trong củ tỏi được trồng trên đất Phù Yên, mà còn nằm ở công nghệ, quy trình, bao bì, thương hiệu và thị trường được xây dựng xung quanh sản phẩm.
Tương tự, với thương hiệu cà phê Arabica, Sơn La không chỉ có lợi thế là diện tích vùng nguyên liệu rộng lớn với 33.600 ha cà phê, sản lượng hơn 37.700 tấn cà phê nhân mà Sơn La đã biến lợi thế thành lợi nhuận bền vững với nhiều diện tích cà phê được chứng nhận sản xuất bền vững, nhiều cơ sở chế biến cà phê đã hình thành với sản phẩm cà phê đạt chứng nhận sản phẩm OCOP hạng 5 sao.
Trên kết quả đã đạt được của Chương trình MTQG 1719, thực hiện Chương trình MTQG 417, Sơn La xác định phát triển phát triển nông nghiệp bền vững không phải là phát triển thêm sản vật bằng mọi giá, mà phải là làm cho sản vật đang có tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị đất, lao động và tài nguyên. Đồng thời, tiếp tục hình thành vùng nguyên liệu ổn định; củng cố hợp tác xã; chuẩn hóa quy trình; tăng truy xuất nguồn gốc; phát triển chế biến sâu; kết nối doanh nghiệp với nông hộ; mở rộng thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu gắn với địa danh, văn hóa và câu chuyện của cộng đồng.
Tỉnh Sơn La tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ cây cà phê Đối với đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La, cách làm này đặc biệt quan trọng. Khi sản vật địa phương trở thành hàng hóa có thương hiệu, người dân không chỉ bán nguyên liệu mà có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị: từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến dịch vụ, du lịch và thương mại. Thu nhập vì thế không chỉ đến từ một mùa vụ, mà có thể được mở rộng sang nhiều công đoạn kinh tế khác nhau.
Và đó cũng là lúc Chương trình MTQG 417 thực sự phát huy ý nghĩa của một chương trình mục tiêu quốc gia: nguồn lực Nhà nước tạo điểm tựa; cộng đồng lựa chọn hướng đi; hợp tác xã tổ chức sản xuất; doanh nghiệp mở thị trường; khoa học và công nghệ nâng chất lượng; còn người dân là chủ thể tạo ra kết quả. Đặc biệt, đó cũng là con đường để Sơn La giảm nghèo không chỉ bằng hỗ trợ, mà bằng cách tạo ra năng lực kiếm sống bền vững; để nông nghiệp không chỉ tạo ra sản lượng, mà tạo ra giá trị; và để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Sơn La có thêm một nền tảng vững chắc từ chính những gì quê hương đã và đang có./.