Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chương trình MTQG 417: Góp phần đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao

Phương Thảo - 08:18, 13/10/2026

(DTTG) - Giai đoạn 2026-2030, thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417) đang đặt ra yêu cầu đối với các địa phương, đó là: vừa phải đảm bảo kế thừa, phát huy thành quả của ba chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025, vừa phải cụ thể hóa và triển khai đồng bộ các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã ban hành. Từ đó góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.

Khai thác lợi thế về nông nghiệp đặc sản, dược liệu, lâm nghiệp bền vững, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và các giá trị văn hóa tộc người là giải pháp phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Trong ảnh: Sản xuất quế ở Lào Cai - Ảnh Phương Liên)
Khai thác lợi thế về nông nghiệp đặc sản, dược liệu, lâm nghiệp bền vững, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và các giá trị văn hóa tộc người là giải pháp phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Trong ảnh: Sản xuất quế ở Lào Cai - Ảnh Phương Liên)

Những thuận lợi cho một giai đoạn phát triển mới

Giai đoạn 2021-2025, ba Chương trình MTQG: Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững, Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã khẳng định vai trò quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục triển khai Chương trình MTQG 417 trong bối cảnh yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững ngày càng rõ nét.

Đặc biệt, Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần trực tiếp và kịp thời giải quyết một số khó khăn, thách thức cơ bản liên quan đến đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số; bước đầu đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của địa bàn trọng yếu quốc gia. Tỷ lệ giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước; chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người tăng khá và vượt kế hoạch; chất lượng tiếp cận giáo dục, y tế, các nguồn lực phát triển đã tốt hơn, bình đẳng hơn, đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong vùng được nâng cao. Đây là những thành quả có ý nghĩa kinh tế, xã hội và chính trị, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tiếp theo.

Giai đoạn 2026-2030, việc Chương trình MTQG 417 được thực hiện trong bối cảnh đất nước tiếp tục giữ vững ổn định chính trị - xã hội; kinh tế duy trì đà tăng trưởng; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập, hợp tác và huy động nguồn lực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giảm nghèo bền vững; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được ban hành; tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức quản lý nhà nước cũng là cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và triển khai Chương trình trong giai đoạn 2026-2030. 

Đồng bào các dân tộc xã Tìa Dình, tỉnh Điện Biên giúp nhau làm nhà ở
Đồng bào các dân tộc xã Tìa Dình, tỉnh Điện Biên giúp nhau làm nhà ở

Bên cạnh đó, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới phương thức quản lý, điều hành và giám sát Chương trình, phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Những thay đổi này mở ra cơ hội rút ngắn quy trình quản lý, đưa quyết định đầu tư đến gần hơn với nhu cầu thực tiễn của người dân, nâng cao tính minh bạch trong phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Giải quyết những thách thức

Mặc dù có nền tảng thuận lợi, song việc thực hiện Chương trình MTQG 417 cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức đan xen từ cả trong nước và quốc tế. Biến đổi khí hậu, thiên tai diễn biến phức tạp và ngày càng cực đoan; rủi ro về an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước gia tăng trong bối cảnh toàn cầu hóa tác động trực tiếp đến sản xuất, sinh kế và đời sống của người dân.

Chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền và giữa các nhóm dân cư vẫn còn lớn. Nhiều xã, thôn, bản vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo gặp khó khăn trong tiếp cận kết cấu hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản và cơ hội sinh kế. Trong bối cảnh cạnh tranh nguồn lực và thị trường gay gắt, các khu vực có điều kiện tự nhiên khó khăn càng chịu nhiều bất lợi trong thu hút đầu tư và phát triển sản xuất.

Cơ cấu dân số nông thôn tiếp tục biến đổi theo hướng bất lợi do lao động trẻ di cư ra khu vực đô thị và khu công nghiệp, trong khi tỷ lệ người cao tuổi gia tăng, tạo áp lực lớn đối với phát triển cộng đồng và hệ thống an sinh xã hội. Các biến động của thị trường lao động khu vực và quốc tế cũng tác động đến ổn định sinh kế và nguồn thu nhập của người dân nông thôn.

Lớp học nghề làm chổi tre và chổi chít tại xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang
Lớp học nghề làm chổi tre và chổi chít tại xã Hùng An, tỉnh Tuyên Quang

Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 cho thấy nhu cầu vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, phát triển sinh kế, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao thu nhập của người dân rất lớn; việc huy động và điều phối hiệu quả các nguồn lực trong bối cảnh ngân sách còn khó khăn và môi trường quốc tế biến động đòi hỏi phải có cách tiếp cận phù hợp trong giai đoạn 2026-2030.

Áp lực càng lớn hơn khi Chương trình MTQG 417 xác định những mục tiêu cụ thể đến năm 2030: thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung cả nước; tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc giảm 1-1,5% mỗi năm; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%. Phấn đấu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó khoảng 10% đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại... Những chỉ tiêu này thể hiện quyết tâm chính trị lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực tổ chức thực hiện.

Một thách thức khác nằm ở năng lực vận hành của chính quyền cấp xã. Khi phạm vi quản lý, khối lượng công việc và trách nhiệm được mở rộng, yêu cầu về nhân lực chuyên môn, năng lực lập kế hoạch, quản lý đầu tư và giám sát cộng đồng cũng tăng lên. Nếu phân cấp không đi kèm nguồn lực, hướng dẫn nghiệp vụ và cơ chế kiểm soát phù hợp, những vướng mắc từng tồn tại có nguy cơ tiếp tục xuất hiện dưới hình thức mới.

Phụ nữ dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa giữ gìn nghề dệt truyền thống của dân tộc
Phụ nữ dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa giữ gìn nghề dệt truyền thống của dân tộc

Tập trung giải quyết những vấn đề có tính quyết định

Từ những thuận lợi và thách thức trên, yêu cầu đầu tiên là mỗi địa phương cần xây dựng kế hoạch triển khai Chương trình MTQG 417 trên cơ sở đánh giá đúng điều kiện xuất phát, tiềm năng phát triển và những thiếu hụt cụ thể của từng địa bàn, nhóm dân cư. Nguồn lực phải được bố trí theo mức độ cấp thiết và khả năng tạo tác động lâu dài, tránh bình quân, dàn trải. Có cơ chế điều phối thống nhất, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, bảo đảm các nội dung đầu tư, hỗ trợ được kết nối trong cùng một mục tiêu phát triển.

Coi nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Giảm nghèo phải giúp người dân có khả năng duy trì và nâng cao mức sống trước những biến động kinh tế, xã hội. Điều này đòi hỏi chuyển mạnh sang hỗ trợ phát triển năng lực sản xuất, tiếp cận vốn, khoa học công nghệ, đào tạo nghề và kết nối thị trường.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế về nông nghiệp đặc sản, dược liệu, lâm nghiệp bền vững, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và các giá trị văn hóa tộc người.

Giải quyết căn cơ khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Với những địa bàn đặc biệt khó khăn, ưu tiên đầu tư phải hướng vào các điều kiện nền tảng như giao thông, điện, nước sinh hoạt, hạ tầng số, trường học, cơ sở y tế và các dịch vụ thiết yếu. 

Đường đi học của những đứa trẻ người Bru-Vân Kiều ở xã Lao Bảo, Quảng Trị (Ảnh: Phương Liên)
Đường đi học của trẻ em người Bru-Vân Kiều ở xã Lao Bảo, Quảng Trị (Ảnh: Phương Liên)

Phân cấp cho chính quyền địa phương phải đi đôi với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và bảo đảm điều kiện thực hiện. Cán bộ cấp xã cần được tăng cường năng lực lập kế hoạch, quản lý tài chính, tổ chức dự án, vận động cộng đồng và ứng dụng công nghệ số. Thiết lập cơ chế giám sát dựa trên kết quả đầu ra, công khai thông tin về phân bổ vốn, tiến độ và hiệu quả thực hiện để người dân, cộng đồng và các tổ chức xã hội cùng tham gia giám sát.

Chuyển đổi số cần được xem là công cụ nâng cao chất lượng quản trị Chương trình. Phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng trong toàn bộ quá trình thực hiện.

Giai đoạn 2026-2030 là cơ hội để định hình một phương thức phát triển nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi toàn diện, hiệu quả, bền vững hơn, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.