Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chương trình MTQG 417: Kỳ vọng vào một giai đoạn phát triển mới cho khu vực miền núi phía Bắc

Dũng Paul - Đức Duy - 14:29, 28/09/2026

(DTTG) - Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030 (Chương trình MTQG 417) đặt ra một kỳ vọng lớn đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi trong cả nước, trong đó có khu vực miền núi phía Bắc. Chương trình không chỉ cải thiện hạ tầng, giảm nghèo mà quan trọng hơn là tạo ra sinh kế bền vững cho người dân. Khi nguồn lực Nhà nước được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, việc làm, thị trường và thu nhập, chính sách dân tộc sẽ thực sự tạo nền tảng cho phát triển bền vững.


Đa dạng hóa sinh kế, khơi dậy nội lực của người dân, gắn phát triển sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị
Đa dạng hóa sinh kế, khơi dậy nội lực của người dân, gắn phát triển sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị

Vùng núi phía Bắc có những lợi thế mà không phải nơi nào cũng có, như: đất đai, rừng, khí hậu đa dạng, sản vật đặc hữu, cảnh quan tự nhiên, văn hóa của nhiều dân tộc và nguồn tri thức địa phương phong phú. Nhưng nghịch lý cũng nằm chính ở đó. Nhiều lợi thế chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế; sản xuất còn phân tán; hạ tầng tại một số địa bàn còn khó khăn; khả năng tiếp cận thị trường, vốn, khoa học kỹ thuật và việc làm có chất lượng còn hạn chế.

Trong bối cảnh ấy, Chương trình MTQG 417 được triển khai đã tạo ra một khung chính sách mới cho phát triển vùng. Theo đó, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Những mục tiêu ấy cho thấy, trọng tâm không còn chỉ là hỗ trợ cho đủ, mà phải tạo được năng lực để phát triển.

Sinh kế là thước đo giảm nghèo

Những năm gần đây, công cuộc giảm nghèo bền vững của nước ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt tại các tỉnh miền núi, nơi được xem là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất cả nước. Với địa hình phức tạp, hạ tầng thiếu đồng bộ, tập quán canh tác còn lạc hậu và mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội còn hạn chế, miền núi luôn là điểm nóng trong hành trình thu hẹp khoảng cách phát triển. 

Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước giảm bình quân 1,03% mỗi năm; trong đó, tại các huyện nghèo phần lớn nằm ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số mức giảm đạt tới 6,7% mỗi năm, vượt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số giảm 4,45% mỗi năm. Đặc biệt, số hộ nghèo và cận nghèo trên toàn quốc đã giảm mạnh từ khoảng 2,39 triệu hộ đầu kỳ xuống còn khoảng 1,26 triệu hộ cuối năm 2025, tức giảm hơn một nửa chỉ trong bốn năm. Những con số biết nói này cho thấy chính sách đúng đắn, nguồn lực kịp thời và sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị đã mang lại chuyển biến sâu sắc cho vùng núi.

Theo đó, thành tựu giảm nghèo ở miền núi không chỉ thể hiện qua tỷ lệ giảm nghèo mà còn qua chất lượng sống của người dân. Hơn 2.600 công trình hạ tầng được đầu tư mới hoặc nâng cấp, từ đường giao thông, trường học, nhà văn hóa đến công trình thủy lợi và cấp nước sinh hoạt, giúp người dân tiếp cận dịch vụ thuận lợi hơn. Cùng với đó, hơn 10.587 mô hình giảm nghèo đã được triển khai, hỗ trợ trực tiếp cho khoảng 205.000 hộ nghèo và cận nghèo. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, hơn 6.174 dự án hỗ trợ sản xuất đã giúp gần 100.000 hộ nâng cao năng suất, tiếp cận kỹ thuật mới và từng bước tham gia chuỗi giá trị thị trường. Việc hỗ trợ sinh kế gắn với đào tạo nghề và tạo việc làm góp phần giúp người dân có nguồn thu ổn định, giảm phụ thuộc vào trợ cấp.

Có thể nói, những con số tích cực này được khẳng định rõ hơn trong thực tiễn ở các địa phương miền núi. Tại tỉnh Tuyên Quang, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 23,45% năm 2021 xuống còn 10,19% vào cuối năm 2024, mức giảm trung bình 4,42% mỗi năm, thể hiện nỗ lực vượt bậc trong bối cảnh địa bàn rộng, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Còn ở tỉnh Điện Biên, một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 34,90% xuống 21,29% trong ba năm, tương đương hơn 16.900 hộ thoát nghèo…

Đặc biệt, đối với vùng miền núi phía Bắc, giảm nghèo bền vững trước hết phải bắt đầu từ sinh kế. Một hộ dân có thể được hỗ trợ một khoản vốn, cây giống, con giống hoặc tư liệu sản xuất, nhưng nếu không có kiến thức, thị trường và khả năng quản lý rủi ro thì sự hỗ trợ ấy khó tạo thành thay đổi lâu dài. Vì vậy, cơ chế sinh kế cần được thiết kế theo một chuỗi liên kết, như: hạ tầng - vốn - kỹ thuật - tổ chức sản xuất - thị trường - chế biến - thương hiệu - thu nhập - tích lũy.

Đây là điểm có ý nghĩa sâu sắc trong Chương trình MTQG 417 (giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030). Mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn được đặt trong hướng đi xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại nông nghiệp, nâng cao thu nhập và thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, nhóm dân cư.

Như vậy, một dự án sinh kế không nên được đánh giá đơn giản bằng số hộ được hỗ trợ, mà phải nhìn vào câu hỏi, đó là sau khi kết thúc hỗ trợ, người dân có tiếp tục tạo ra thu nhập hay không? Nếu có, đó là sinh kế. Nếu sinh kế ấy có khả năng thích ứng với biến động giá cả, thiên tai, dịch bệnh và thay đổi thị trường, thì đó mới là sinh kế bền vững.

Phát huy lợi thế địa phương 

Một trong những kỳ vọng lớn nhất của Chương trình MTQG 417 là giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói chung, vùng núi phía Bắc nói riêng chuyển từ khai thác lợi thế theo chiều rộng sang gia tăng giá trị dựa trên đặc trưng địa phương.

Cây dược liệu, cây chè, cây ăn quả ôn đới, quế, hồi, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm chăn nuôi bản địa, hàng thủ công truyền thống, sản phẩm OCOP hay du lịch cộng đồng,… đều có thể trở thành nguồn tạo thu nhập. Hiện cả nước đã có hơn 20.000 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó 126 sản phẩm đạt chuẩn 5 sao cấp quốc gia - mức đánh giá cao nhất trong hệ thống phân hạng OCOP.  Với 10.615 chủ thể tham gia phát triển sản phẩm OCOP, bao gồm hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất kinh doanh và tổ hợp tác. Trong đó, cơ sở sản xuất và hộ kinh doanh chiếm 39,5%, hợp tác xã chiếm 32,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 25,4%. Cơ cấu này cho thấy OCOP đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn, tạo điều kiện để các chủ thể địa phương khai thác hiệu quả tiềm năng địa phương, phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa và gia tăng giá trị sản phẩm.

Về phân bố vùng miền, Đồng bằng sông Hồng hiện dẫn đầu cả nước với 32,3% tổng số sản phẩm OCOP, tiếp theo là Đồng bằng sông Cửu Long với 22,2%. Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chiếm 18%, miền núi phía Bắc chiếm 15,9% và Đông Nam Bộ chiếm 6,5%. Kết quả này cho thấy, việc lồng ghép với chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (gọi tắt là Chương trình 1719) đã lan tỏa rộng khắp, góp phần phát huy lợi thế đặc trưng của từng địa phương, từng vùng sinh thái, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và hình thành nhiều chuỗi giá trị sản phẩm đặc sản mang bản sắc riêng.

Tuy nhiên, điều quyết định không phải chỉ là có sản phẩm, mà là sản phẩm có bước được vào chuỗi giá trị hay không. Một vùng trồng cây tốt nhưng chỉ bán nguyên liệu thô sẽ tạo ra giá trị khác xa một vùng nguyên liệu có hợp tác xã tổ chức sản xuất, doanh nghiệp chế biến, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu.

Tương tự, một bản làng có nhà sàn, nghề truyền thống, lễ hội và cảnh quan đẹp mới chỉ có “tài nguyên”. Khi cộng đồng có kỹ năng làm du lịch, biết tổ chức dịch vụ, kể câu chuyện văn hóa, bảo vệ môi trường và phân phối lợi ích công bằng, tài nguyên ấy mới trở thành nguồn lực sinh kế.

Đây chính là nơi chính sách dân tộc gặp gỡ chính sách phát triển kinh tế, như: bảo tồn văn hóa không đứng ngoài sinh kế; nếu được tổ chức đúng, văn hóa có thể trở thành một phần của sinh kế, còn sinh kế lại tạo thêm động lực để cộng đồng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Hạ tầng mở đường cho phát triển

Kỳ vọng về sinh kế cũng đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại vai trò của đầu tư hạ tầng. Theo đó, một con đường đến bản không chỉ giúp người dân đi lại thuận tiện hơn, nó có thể giảm chi phí đưa nông sản ra thị trường. Một công trình thủy lợi không chỉ phục vụ sản xuất mà còn giảm rủi ro mùa vụ. Hạ tầng viễn thông không chỉ phục vụ liên lạc, đồng thời còn mở ra khả năng bán hàng trực tuyến, tiếp cận thông tin giá cả và quảng bá sản phẩm.

Bởi vậy, đầu tư công cần được đánh giá bằng tác động kinh tế-xã hội cuối cùng, chứ không chỉ bằng khối lượng công trình hoàn thành. Nghị quyết số 27/2026/QH16 ngày 24/04/2026 của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 cũng nhấn mạnh việc phân bổ, quản lý vốn trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, mức độ cải thiện đời sống và an sinh xã hội mà người dân được thụ hưởng; đồng thời ưu tiên miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đây là tiền đề, cơ sở quan trọng để các dự án hạ tầng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải hướng tới một mục tiêu rộng hơn, đó là mở không gian phát triển cho người dân.

Mô hình trồng rau hữu cơ của Hợp tác xã Vân Hồ Retreat, xã Vân Hồ (tỉnh Sơn La) khác biệt so với mô hình hợp tác xã truyền thống
Mô hình trồng rau hữu cơ của Hợp tác xã Vân Hồ Retreat, xã Vân Hồ (tỉnh Sơn La) khác biệt so với mô hình hợp tác xã truyền thống

Đẩy mạnh phân cấp phân quyền, nâng cao hiệu quả chính sách

Một điểm mới có ý nghĩa quan trọng là cơ chế phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho địa phương. Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình, các bộ, ngành, địa phương đã khẩn trương vào cuộc triển khai và Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vũng và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (Chương trình MTQG 417) đã xác định nguyên tắc “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”; Trung ương xây dựng cơ chế, chính sách, công cụ kiểm tra, giám sát, còn địa phương căn cứ điều kiện thực tế để chủ động phân bổ, lồng ghép nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Điều này đặc biệt phù hợp với vùng núi phía Bắc, nơi mỗi địa bàn có điều kiện sinh thái, văn hóa và kinh tế khác nhau. Lợi thế của một xã vùng cao có thể là du lịch; nơi khác lại là kinh tế rừng; địa bàn khác lại có thể phát triển dược liệu, cây đặc sản hoặc chăn nuôi... Một cơ chế quá đồng nhất dễ làm mất đi lợi thế riêng. Phân quyền hợp lý sẽ cho phép địa phương chọn đúng cây, đúng nghề, đúng thị trường và đúng nhóm dân cư để đầu tư, phát triển. 

Tuy nhiên, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình. Không chỉ hỏi vốn đã được phân bổ bao nhiêu, mà phải hỏi vốn tạo ra bao nhiêu việc làm, tăng thêm bao nhiêu thu nhập và bao nhiêu mô hình còn tồn tại sau khi ngân sách hỗ trợ kết thúc.

Vùng trung du và miền núi phía Bắc đang trở thành vùng phát triển xanh, bền vững, toàn diện
Vùng trung du và miền núi phía Bắc đang trở thành vùng phát triển xanh, bền vững, toàn diện

Kỳ vọng về một giai đoạn phát triển mới

Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ: Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỉ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình MTQG 417 đã quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia 417 tạo cơ sở để nguồn lực được phân bổ theo những tiêu chí thống nhất, đồng thời tăng vai trò chủ động của địa phương.

Nhưng tiền vốn chỉ là điều kiện cần. Đặc biệt, điều kiện đủ là cách tổ chức thực hiện. Nguồn lực phải đến đúng địa bàn; dự án phải xuất phát từ nhu cầu thực tế; người dân phải tham gia từ khâu lựa chọn mô hình; doanh nghiệp và hợp tác xã phải được khuyến khích tham gia chuỗi; khoa học - công nghệ phải đi vào sản xuất; chuyển đổi số phải mở rộng thị trường; và kết quả phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống.

Vì vậy, kỳ vọng lớn nhất đối với vùng núi phía Bắc trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là thêm những con đường, trường học hay công trình mới, mà đó còn là một sự chuyển biến về năng lực phát triển của cộng đồng. Khi người dân có sinh kế ổn định, họ có thể tích lũy; khi có tích lũy, họ có thể đầu tư cho con cái; khi có việc làm và thu nhập, cộng đồng có thêm nguồn lực bảo tồn văn hóa, bảo vệ rừng và môi trường; khi sản phẩm địa phương vào được thị trường, giá trị của đất đai, tri thức và lao động được nâng lên.

Đó chính là vòng tròn phát triển mà Chương trình MTQG 417 sẽ tạo dựng, như: nguồn lực công tạo hạ tầng và cơ hội; cơ hội tạo sinh kế; sinh kế tạo thu nhập; thu nhập tạo tích lũy; tích lũy tạo khả năng tự chủ; và khả năng tự chủ tạo sức chống chịu cho cộng đồng.

Với cách đổi mới phương thức thiết kế và triển khai thực hiện, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng, Chương trình MTQG 417 sẽ không chỉ là một chương trình đầu tư cho vùng khó khăn. Sâu xa hơn, đó sẽ là một cơ chế đánh thức nguồn lực nội sinh, thu hẹp khoảng cách phát triển và mở rộng cơ hội để đồng bào dân tộc thiểu số cả nước nói chung, vùng núi phía Bắc nói riêng trở thành chủ thể của quá trình phát triển…/.