Toàn cảnh buối làm việcChuyến công tác của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang tại tỉnh Lạng Sơn ngày 2/6 không chỉ là hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thể hiện quyết tâm của Bộ trong việc nhận diện rõ những điểm nghẽn, tháo gỡ khó khăn, đưa chính sách đến gần hơn với cuộc sống của đồng bào.
Những chuyển biến tích cực nơi vùng cao biên giớiDân số Lạng Sơn hiện có trên 881.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 84% dân số. Đây là một trong những địa phương có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao nhất cả nước, đồng thời là tỉnh biên giới giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng - an ninh.
Những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ cùng nỗ lực của địa phương, diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh đã có nhiều đổi thay rõ nét. Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ hơn; đời sống vật chất, tinh thần của người dân từng bước được nâng cao; khoảng cách phát triển giữa vùng thấp và vùng cao dần được thu hẹp.
Theo các số liệu báo cáo của tỉnh Lạng Sơn cho thấy những kết quả rất đáng ghi nhận. Đến nay, 100% xã, phường trên địa bàn tỉnh đã có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện đạt 99,88%. Đây là con số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một tỉnh miền núi, nơi nhiều thôn bản nằm cách xa trung tâm hàng chục kilômét.
Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 85%; tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sạch theo quy chuẩn đạt trên 65%; gần 84% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chủ động tưới tiêu. Hệ thống giáo dục tiếp tục được củng cố với 325 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm hơn 51% tổng số trường học toàn tỉnh.
Đặc biệt, công tác giảm nghèo tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 2,32%, giảm 1,04% so với năm trước. Đây là mức giảm khá cao trong bối cảnh nhiều địa phương miền núi đang đối mặt với những khó khăn về nguồn lực đầu tư và biến đổi khí hậu.
Trong đó, một dấu ấn đặc biệt, nổi bật khác là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát được triển khai quyết liệt, hoàn thành hỗ trợ xây dựng và đưa vào sử dụng 1.340 căn nhà, đạt 100% kế hoạch đề ra. Những ngôi nhà mới không chỉ giúp người dân an cư mà còn tiếp thêm niềm tin để vươn lên phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống.
Bên cạnh những kết quả tích cực, tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang cũng thẳng thắn chỉ ra yêu cầu cần nhìn nhận rõ hơn những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách dân tộc.
Thực tế cho thấy, nhiều chính sách được ban hành rất đúng và trúng, song hiệu quả ở một số nơi chưa đạt như kỳ vọng do còn tồn tại những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện.
Đặc biệt, một trong những vấn đề được Bộ trưởng quan tâm là tiến độ giải ngân nguồn vốn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo báo cáo của tỉnh Lạng Sơn, tổng nguồn vốn kéo dài sang năm 2026 còn hơn 816 tỷ đồng. Đây là nguồn lực rất lớn, nếu được giải ngân hiệu quả sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội vùng cao. Ngược lại, nếu chậm giải ngân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các dự án, chương trình và quyền lợi của người dân.
Chính vì vậy, Bộ trưởng đề nghị tỉnh phải làm rõ nguyên nhân của từng vướng mắc, từng điểm nghẽn; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành để có giải pháp tháo gỡ kịp thời.
Điều đặc biệt là Bộ trưởng không chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu kinh tế mà đặc biệt nhấn mạnh những vấn đề sát sườn với cuộc sống của người dân, như: điện lưới, viễn thông, đất sản xuất, nước sinh hoạt và sinh kế bền vững…
Đây chính là tư duy phát triển lấy người dân làm trung tâm, lấy chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số làm thước đo hiệu quả của chính sách.
Từ hỗ trợ sang tạo sinh kế bền vững
Theo đó, một trong những yêu cầu quan trọng được Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang đặt ra là cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang tư duy phát triển.
Trong nhiều năm qua, chính sách dân tộc đã góp phần giải quyết hiệu quả các nhu cầu thiết yếu, như: nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục… Tuy nhiên, để phát triển bền vững, điều quan trọng hơn là phải tạo được sinh kế lâu dài cho người dân.
Thực tế cho thấy, nhiều hộ dân đã thoát nghèo nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn còn hiện hữu nếu thiếu việc làm ổn định hoặc không có nguồn thu nhập lâu dài, bền vững.
Do đó, các chính sách trong giai đoạn tới cần tập trung nhiều hơn vào phát triển sản xuất, hỗ trợ khởi nghiệp, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề và phát triển kinh tế cộng đồng.
Lạng Sơn có nhiều lợi thế để thực hiện mục tiêu này. Với hệ thống cửa khẩu quốc tế, quốc gia và các tuyến giao thương sôi động với Trung Quốc, tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biên mậu, logistics, thương mại dịch vụ và nông nghiệp hàng hóa.
Nếu biết khai thác hiệu quả các lợi thế này, kết hợp với việc phát triển các sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và kinh tế số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoàn toàn có thể trở thành động lực tăng trưởng mới của địa phương.
Giữ gìn bản sắc văn hóa gắn với phát triển kinh tế
Bên cạnh phát triển kinh tế, tỉnh Lạng Sơn đang làm khá tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Những làn điệu sli, lượn của người Nùng, người Tày; các lễ hội truyền thống; nghề thủ công dân gian; kiến trúc bản làng vùng cao tiếp tục được gìn giữ và phát huy.
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang đánh giá cao việc địa phương đã gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng, tạo thêm việc làm và nguồn thu nhập cho người dân.
Đây là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển hiện đại, bởi văn hóa không chỉ là bản sắc, đồng thời còn là nguồn lực phát triển bền vững.
Khi người dân được hưởng lợi trực tiếp từ các giá trị văn hóa truyền thống, họ sẽ có ý thức hơn trong việc bảo tồn và phát huy những di sản của cha ông để lại.
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Cảnh Toàn phát biểu tại buổi làm việc với Bộ Dân tộc và Tôn giáoTăng cường nắm chắc tình hình dân tộc, tôn giáo từ cơ sở
Một nội dung quan trọng khác được Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang nhấn mạnh là tiếp tục tăng cường công tác nắm tình hình dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo ngay từ cơ sở.
Lạng Sơn hiện có ba tôn giáo đang hoạt động gồm Phật giáo, Công giáo và Tin Lành. Những năm qua, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn diễn ra ổn định, đúng quy định của pháp luật, không phát sinh điểm nóng phức tạp.
Đây là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc và người có uy tín trong cộng đồng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội,… cũng đặt ra những thách thức mới.
Do đó, Bộ trưởng đề nghị địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường đối thoại, lắng nghe tâm tư nguyện vọng chính đáng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo; chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở, không để hình thành điểm nóng.
Đặc biệt, cần triển khai hiệu quả công tác tổng kết Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc và tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) năm 2026 trong thời gian tới.
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang phát biểu tại buôi làm việc với tỉnh Lạng SơnKhơi thông nguồn lực cho giai đoạn phát triển mới
Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang bày tỏ ấn tượng trước mục tiêu và tầm nhìn phát triển mà tỉnh Lạng Sơn đang hướng tới trong giai đoạn 2026-2030.
Theo định hướng của tỉnh, tổng nguồn lực huy động để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới dự kiến đạt trên 20.267 tỷ đồng. Đây là con số thể hiện quyết tâm rất lớn của địa phương trong việc đầu tư cho vùng khó khăn.
Tuy nhiên, nguồn lực chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng trọng tâm, trọng điểm và tháo gỡ được những rào cản trong quá trình thực hiện.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải tiếp tục đổi mới tư duy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời tăng cường giám sát để bảo đảm mọi chính sách đều đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả cao nhất.
Có thể khẳng định rằng, những thành tựu đạt được trong công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng và tôn giáo của tỉnh Lạng Sơn thời gian qua là rất đáng ghi nhận. Song trước yêu cầu phát triển mới, việc nhận diện đúng và quyết liệt tháo gỡ những điểm nghẽn vẫn là nhiệm vụ mang tính quyết định.
Khi các nguồn lực được khơi thông, các chính sách được triển khai đồng bộ và sát thực tiễn hơn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ có thêm cơ hội bứt phá. Đó không chỉ là câu chuyện phát triển kinh tế mà còn là hành trình củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc và tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Lạng Sơn trong những năm tới./.