Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn học nghệ thuật

Bồi đắp tình yêu văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ - Sự chuẩn bị cần thiết cho hành trang đi đến tương lai

Nguyễn Duy Dũng - 19:34, 31/07/2026

(DTTG) - Văn hóa truyền thống là ký ức của quá khứ, đồng thời còn là nguồn lực để kiến tạo tương lai. Khi người trẻ biết tự hào về tiếng nói, trang phục, lễ hội, nghề thủ công và những giá trị ứng xử của cha ông, văn hóa sẽ không còn nằm trong bảo tàng hay những trang sách, mà hiện diện sinh động trong đời sống hôm nay. Vì vậy, khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống không chỉ là gìn giữ di sản văn hoá, mà còn bồi đắp bản lĩnh và bản sắc văn hoá Việt Nam trong thời đại hội nhập…

Nét Việt Nam là một lời mời gọi thế hệ trẻ cùng chung tay bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, một hành trình kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai
Giáo dục tình yêu văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ chính là chuẩn bị hành trang cho tương lai

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sửu (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) chia sẻ: Trong quá trình  toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn hóa truyền thống đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức. Chưa bao giờ những giá trị văn hóa dân tộc có điều kiện được quảng bá rộng rãi như hiện nay thông qua công nghệ số, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông. Nhưng cũng chưa bao giờ những giá trị ấy phải đối mặt với nguy cơ bị lấn át bởi các xu hướng văn hóa ngoại nhập, lối sống thực dụng và nhịp sống hiện đại diễn ra nhanh đến vậy. Chính trong bối cảnh ấy, việc khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống là yêu cầu của công tác bảo tồn di sản, đặc biệt còn là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, giàu bản sắc và đủ năng lực hội nhập.

Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, là ký ức tập thể được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Và đó là những di tích cổ kính, lễ hội truyền thống hay những làn điệu dân ca,… đồng thời còn là tiếng mẹ đẻ, cách ứng xử trong gia đình, nghề thủ công, ẩm thực, trang phục, tín ngưỡng và tri thức địa phương được hình thành trong quá trình con người thích ứng với tự nhiên và xã hội. Mỗi giá trị văn hóa đều chứa đựng những bài học về đạo lý, tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Đối với Việt Nam, quốc gia thống nhất, đa dân tộc, với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (với hơn 14 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước), chính vì vậy, văn hóa truyền thống càng trở nên phong phú và đa dạng. Từ tiếng khèn Mông giữa cao nguyên đá Đồng Văn, điệu xòe Thái trên những cánh đồng Mường Lò, nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca Quan họ Bắc Ninh đến đờn ca tài tử Nam Bộ, mỗi di sản văn hoá đều góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Chính sự đa dạng ấy là nguồn lực mềm quan trọng để phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không ít giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Nhiều nghề thủ công không còn người nối nghiệp; nhiều loại hình nghệ thuật dân gian thiếu lớp nghệ nhân kế cận; một số lễ hội bị thương mại hóa hoặc biến tướng; không ít người trẻ hiểu biết khá nhiều về văn hóa nước ngoài nhưng lại ít biết về lịch sử, phong tục hay di sản văn hoá ngay trên quê hương mình. Đây không chỉ là câu chuyện của riêng ngành văn hóa, đồng thời còn là vấn đề liên quan đến giáo dục, truyền thông và sự phát triển bền vững của đất nước.

Văn hoá Việt tạo nên nhịp cầu kết nối thế hệ trẻ với di sản cha ông
Văn hoá truyền thống tạo nên nhịp cầu kết nối giữa các thế hệ

Vì vậy, muốn khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống, trước hết cần thay đổi nhận thức, tư duy về cách tiếp cận. Văn hóa không thể chỉ được truyền dạy bằng những bài học khô cứng hay những khẩu hiệu mang tính tuyên truyền. Điều quan trọng hơn là giúp mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, được trực tiếp trải nghiệm, cảm nhận và khám phá giá trị của di sản. Theo đó, một chuyến tham quan làng nghề, một buổi học hát dân ca, một ngày trải nghiệm làm gốm, dệt thổ cẩm và tham gia lễ hội truyền thống,… sẽ để lại ấn tượng sâu sắc hơn nhiều so với những bài giảng lý thuyết đơn thuần.

Có thể nói, giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành tình yêu văn hóa dân tộc. Khi nhà trường gắn việc học với trải nghiệm thực tế, đưa di sản vào hoạt động ngoại khóa, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn hóa địa phương, khuyến khích học sinh tìm hiểu lịch sử dòng họ, quê hương và các giá trị văn hóa dân tộc, việc học sẽ trở nên sinh động và gần gũi hơn. Đó cũng là cách để văn hóa truyền thống trở thành một phần tự nhiên trong quá trình hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.

Bên cạnh giáo dục, truyền thông hiện đại đang mở ra cơ hội lớn để lan tỏa tình yêu văn hóa dân tộc. Và những video ngắn giới thiệu ẩm thực truyền thống, những câu chuyện về nghệ nhân, những thước phim ghi lại lễ hội, nghề thủ công hay tri thức địa phương đang thu hút hàng triệu lượt xem trên các nền tảng số. Nhiều bạn trẻ đã sáng tạo nội dung bằng ngôn ngữ hiện đại để kể những câu chuyện cũ theo cách mới, giúp văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Trong đó, một tín hiệu tích cực là ngày càng nhiều người trẻ chủ động tìm về giá trị truyền thống. Họ mặc áo dài trong các sự kiện quan trọng, sử dụng sản phẩm thủ công Việt Nam, học thư pháp, học nhạc cụ dân tộc, tham gia các câu lạc bộ dân ca, khởi nghiệp từ nghề truyền thống và ứng dụng công nghệ để quảng bá sản phẩm văn hóa. Những xu hướng ấy cho thấy, văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể đồng hành với đời sống hiện đại nếu được tiếp cận bằng tư duy sáng tạo và phù hợp với nhu cầu của xã hội.

Khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu lịch sử, yêu mến và tự hào về các giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam, từ đó thúc đẩy ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong mỗi cá nhân trẻ
Khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu lịch sử, yêu mến và tự hào về các giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam, từ đó thúc đẩy ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong mỗi cá nhân trẻ

Còn đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số còn mang ý nghĩa đặc biệt. Tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát, tri thức về cây thuốc, canh tác và kiến trúc truyền thống là bản sắc của từng cộng đồng, đồng thời còn là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch cộng đồng, kinh tế văn hóa và sinh kế bền vững. Khi người dân, nhất là thanh niên, tự hào về di sản của dân tộc mình, họ sẽ có động lực gìn giữ, phát huy và biến những giá trị ấy thành lợi thế phát triển.

Tuy nhiên, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên mọi giá trị như trong quá khứ. Văn hóa muốn tồn tại phải biết thích nghi với đời sống đương đại. Một nghề thủ công cần có mẫu mã phù hợp với thị trường; một lễ hội cần được tổ chức văn minh, an toàn; một làn điệu dân ca có thể được phối khí mới nhưng vẫn giữ hồn cốt truyền thống. Sự sáng tạo trên nền tảng tôn trọng giá trị gốc chính là con đường để văn hóa truyền thống tiếp tục sống trong lòng xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc số hóa di sản văn hóa trở thành một xu hướng tất yếu. Các bảo tàng số, thư viện số, cơ sở dữ liệu về di sản, bản đồ văn hóa, triển lãm trực tuyến hay ứng dụng thực tế ảo đang tạo điều kiện để công chúng tiếp cận văn hóa thuận lợi hơn. Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ, những người sinh ra và lớn lên cùng công nghệ, đây là phương thức hiệu quả để đưa văn hóa truyền thống bước vào không gian số mà vẫn giữ được giá trị cốt lõi.

Giáo dục, bồi đắp tình yêu văn hóa dân tộc cho học sinh đã và đang hình thành nên lớp trẻ biết trân trọng, giữ gìn những giá trị văn hóa tốt đẹp từ khi ngồi trên ghế nhà trường
Giáo dục, bồi đắp tình yêu văn hóa dân tộc cho học sinh đã và đang hình thành nên lớp trẻ biết trân trọng, giữ gìn những giá trị văn hóa tốt đẹp từ khi ngồi trên ghế nhà trường

Tiến sĩ Nông Hồng Hạnh, Phó Trưởng Ban Khoa học, công nghệ và Hợp tác quốc tế, Phó Giám đốc Phụ trách Trung tâm Nguyên cứu Phát triển phụ nữ dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Đại học Thái Nguyên chia sẻ: Theo quan điểm khoa học phát triển, văn hóa là tài sản tinh thần, đồng thời còn là nguồn lực kinh tế quan trọng. Nhiều địa phương đã thành công khi biến di sản văn hoá thành sản phẩm du lịch, nghề truyền thống thành thương hiệu, lễ hội thành sự kiện văn hóa hấp dẫn và ẩm thực thành động lực phát triển dịch vụ. Khi văn hóa tạo ra giá trị kinh tế, cộng đồng sẽ có thêm động lực để bảo tồn và phát huy di sản một cách bền vững.

Và điều quan trọng hơn cả, tình yêu văn hóa không thể được áp đặt mà phải được khơi dậy từ niềm tự hào và sự thấu hiểu. Khi mỗi người nhận ra rằng trong từng câu ca dao, từng chiếc áo dài, từng mái đình, từng lễ hội hay từng món ăn truyền thống đều chứa đựng lịch sử, tâm hồn và bản lĩnh của dân tộc, họ sẽ tự nguyện gìn giữ và lan tỏa những giá trị ấy.

Trong bối cảnh phát triển và hội nhập, văn hóa truyền thống không phải là điều cũ kỹ cần cất giữ trong ký ức, mà là nguồn năng lượng nuôi dưỡng bản sắc và khơi dậy khát vọng phát triển. Và một dân tộc chỉ có thể hội nhập vững vàng khi hiểu rõ mình là ai, đến từ đâu và mang theo những giá trị gì. Vì vậy, khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống không chỉ là giữ gìn quá khứ, đặc biệt còn là chuẩn bị hành trang cho tương lai.

Do vậy, để văn hóa truyền thống tiếp tục sống trong đời sống đương đại, cần sự chung tay của gia đình, nhà trường, cộng đồng, nghệ nhân, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý. Khi mỗi ngôi nhà là một không gian truyền dạy nếp sống, mỗi trường học là một nơi nuôi dưỡng tình yêu di sản văn hoá, mỗi địa phương biết biến bản sắc văn hoá thành nguồn lực phát triển và mỗi người trẻ trở thành một “đại sứ văn hóa”, những giá trị truyền thống sẽ được bảo tồn và còn tiếp tục tỏa sáng.

Theo đó, khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống, suy cho cùng, chính là khơi dậy niềm tự hào về cội nguồn, hun đúc bản lĩnh dân tộc và tạo dựng nền tảng tinh thần vững chắc để Việt Nam phát triển bền vững trong một thế giới đang không ngừng đổi thay./.