Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phổ biến pháp luật

Văn bản Hỏi đáp

Ngăn chặn tín dụng đen để bảo vệ sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bình An (tổng hợp) - 19:11, 05/06/2026

(DTTG) - Ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tín dụng đen không chỉ tồn tại dưới hình thức cho vay tiền mặt với lãi suất cao mà còn biến tướng thành những khoản ứng trước vật tư, lương thực hay mua bán nông sản theo kiểu “bán non”. Hệ lụy của tình trạng này là nhiều hộ dân quanh năm làm lụng vất vả nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh nợ nần, thậm chí phải gán đất, mất tư liệu sản xuất. Để ngăn chặn tín dụng đen len lỏi vào buôn làng, cần những giải pháp đồng bộ từ tín dụng chính sách đến nâng cao năng lực quản lý kinh tế cho người dân.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Những món nợ ở quán tạp hóa và vòng xoáy tín dụng đen

Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, các hình thức cho vay nặng lãi cũng từng bước len lỏi vào nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu như trước đây, trong các buôn làng, tồn tại đậm nét tinh thần tương trợ cộng đồng, người dân có thể vay gạo, vay thóc hoặc giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn rồi hoàn trả sau, thì khi mạng lưới tư thương phát triển mạnh những quan hệ vay mượn mang tính cộng đồng dần bị thay thế bởi các giao dịch có yếu tố lợi nhuận.

Tại làng Le của đồng bào Rơ Măm ở xã Mo Rai, (Quảng Ngãi), từ giữa những năm 1996 đã xuất hiện các cửa hàng tạp hóa do người từ vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên mở. Ban đầu chỉ là nơi cung cấp các mặt hàng thiết yếu, nhưng dần dần trở thành nơi người dân ghi nợ hàng hóa để thanh toán sau.

Khi chưa có tiền, nhiều hộ gia đình lấy trước các nhu yếu phẩm rồi đến cuối vụ trả bằng nông sản. Giá hàng hóa tại quán thường cao hơn thị trường, trong khi nông sản lại được thu mua với giá thấp. Chính sự chênh lệch này giúp chủ quán thu lợi lớn, còn người dân ngày càng lún sâu vào nợ nần. Hình thức “cắm quán” từng trở nên phổ biến đến mức hầu như gia đình nào trong làng cũng có khoản nợ tại các cửa hàng.

Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận tại nhiều địa phương khác. Năm 2007, khi khảo sát đời sống của đồng bào Khơ Mú xã Mường Xén, (Nghệ An), gần như cả bản đều đang vay nợ của một đại lý gạo. Trong những tháng giáp hạt, người dân phải vay gạo để duy trì cuộc sống và sau vụ thu hoạch sẽ trả lại bằng thóc.

Có những trường hợp, chủ nợ thuê người đến tận nương rẫy để thu hoạch lúa nhằm thu hồi nợ. Nếu quy đổi theo giá trị thực tế, mức lãi suất mà người dân phải gánh chịu có thể lên tới 60-70% mỗi năm.

Cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, khi các thiết bị như cassette, tivi màu bắt đầu phổ biến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều tư thương tiếp tục áp dụng hình thức cho nhận trước hàng hóa rồi thanh toán bằng nông sản sau mùa vụ. Trên thực tế, giá trị hàng hóa thường bị đội lên rất cao, trong khi nông sản được quy đổi với giá thấp. Người chịu thiệt cuối cùng vẫn là người dân, với mức lãi suất thực tế ở nhiều nơi lên tới vài trăm phần trăm mỗi năm. Những biến tướng này của tín dụng đen tồn tại dai dẳng và vẫn còn ảnh hưởng đến đời sống đồng bào cho đến ngày nay.

Nguy cơ từ vay vật tư và bán nông sản non

Không chỉ trong đời sống sinh hoạt, tín dụng đen còn len lỏi vào hoạt động sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại các vùng chuyên canh cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, điều hay các vùng sản xuất lúa nước, nhiều hộ dân thường xuyên phải vay giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ các đại lý hoặc tư thương rồi thanh toán sau vụ thu hoạch.

Do phải chịu mức lãi suất cao, phần lớn lợi nhuận từ sản xuất bị hao hụt đáng kể, khiến nhiều hộ gia đình dù làm ăn chăm chỉ vẫn khó tích lũy được vốn và thường xuyên rơi vào tình trạng nợ kéo dài.

Nguồn vốn tín dụng chính sách góp phần giúp đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sinh kế, giảm phụ thuộc vào các hình thức vay nặng lãi và tín dụng đen.
Nguồn vốn tín dụng chính sách góp phần giúp đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sinh kế, giảm phụ thuộc vào các hình thức vay nặng lãi và tín dụng đen.

Tại buôn Adróng, xã Chư Pơng (Đắk Lắk), tình trạng vay vật tư phục vụ sản xuất diễn ra khá phổ biến. Nhiều hộ đồng bào Ê Đê đang gánh những khoản nợ lớn và gặp khó khăn trong việc trả nợ. Phần lớn người dân nhận phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ đầu vụ và thanh toán bằng cà phê sau thu hoạch. Cách thức này được ví như việc "bán cà phê non", bởi sản phẩm chưa thu hoạch đã phải gánh cả tiền vốn và lãi vay.

Đầu vụ, người dân nhận vật tư sản xuất từ các đại lý rồi cam kết cuối vụ trả bằng sản phẩm cà phê, bao gồm cả gốc và lãi. Thực chất, đây là hình thức “bán cà phê non”, khi thành quả lao động đã được định đoạt ngay từ lúc cây chưa cho thu hoạch.

Tại buôn Ja của người Mnông, xã Liên Sơn Lắk, (Đắk Lắk), phần lớn hộ dân cũng phải mua chịu vật tư với lãi suất rất cao. Có thời điểm, một bao phân urê trị giá 280.000 đồng nhưng chỉ sau ba tháng người dân phải thanh toán 420.000 đồng. Tính theo năm, mức lãi suất tương đương lên tới gần 200%. Chính vì vậy, nhiều người dân đã ví von rằng họ “làm cà phê cho con buôn”, bởi phần lớn công sức lao động cuối cùng lại dùng để trả nợ và tiền lãi.

Thực tế cho thấy tại một số buôn làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, nhiều hộ gia đình dù có đất sản xuất vẫn thường xuyên phải ứng trước phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các vật tư nông nghiệp từ các đại lý trong vùng. Với mức lãi suất phổ biến khoảng 3%/tháng, tương đương 36%/năm, phần lớn lợi nhuận thu được sau mỗi vụ mùa đều dùng để trả nợ và tiền lãi, khiến nhiều hộ dân khó tích lũy vốn, đời sống kinh tế chậm được cải thiện

Không chỉ ở Tây Nguyên, hình thức vay vật tư sản xuất với lãi suất cao còn xuất hiện tại nhiều vùng đồng bào Chăm ở khu vực Nam Trung Bộ. Khảo sát năm 2022 tại làng Bàu Trúc cho thấy nhiều hộ trồng lúa phải phụ thuộc vào nguồn vốn và vật tư ứng trước từ các tư thương. Có hộ gia đình tới 80% chi phí sản xuất được hình thành từ các khoản ứng trước này.

Nguy cơ mất tư liệu sản xuất

Hệ lụy nghiêm trọng nhất của tín dụng đen ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là tình trạng người dân phải cầm cố hoặc gán đất để trả nợ. Tại một số địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, không ít hộ gia đình đã mất ruộng đất sản xuất do không có khả năng thanh toán các khoản vay. Đất đai bị cầm cố hoặc chuyển giao cho chủ nợ, khiến nhiều hộ từ chỗ có tư liệu sản xuất trở thành lao động làm thuê trên chính quê hương mình.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại một số địa bàn miền núi. Ở xã Đăk Ơ, tỉnh Đồng Nai, nhiều hộ đồng bào Xtiêng đã phải cầm cố vườn điều, vườn tiêu trong nhiều năm để trang trải các khoản nợ phát sinh từ sản xuất và sinh hoạt.

Tại một số buôn làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Krông Bông (Đắk Lắk), không ít hộ gia đình vì đau ốm kéo dài, thiếu vốn sản xuất đã phải vay tiền, vay lương thực để trang trải cuộc sống. Khi các khoản nợ cả gốc lẫn lãi ngày càng chồng chất và vượt quá khả năng chi trả, nhiều hộ buộc phải gán một phần đất ở hoặc đất sản xuất cho chủ nợ để trả cho chủ nợ.

Những trường hợp tương tự cũng được ghi nhận tại buôn Khanh, xã Cư Pui hay buôn Dlây, xã Đắk Phơi, tỉnh Đắk Lắk, cho thấy tín dụng đen không chỉ lấy đi thu nhập mà còn đe dọa trực tiếp đến tư liệu sản xuất và sinh kế lâu dài của đồng bào dân tộc thiểu số.