Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không thể chỉ bắt đầu từ những con số tăng trưởng hay các công trình hạ tầng. Gốc rễ của sự phát triển phải là con người và nền tảng văn hóaTrong dòng chảy phát triển của đất nước, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là “hồn cốt dân tộc”, mà còn là động lực nội sinh, là tài nguyên đặc biệt để tạo sinh kế, phát triển du lịch, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Từ nhận thức ấy, nhiều địa phương vùng cao, miền núi đã và đang biến những giá trị văn hóa truyền thống thành lợi thế cạnh tranh, mở ra hướng đi mới trong phát triển bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam có nêu: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới…”.
Những năm gần đây, diện mạo nhiều bản làng vùng cao, miền núi đã đổi thay rõ nét nhờ biết khai thác giá trị văn hóa địa phương gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Tại các tỉnh như: Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Lào Cai, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn hay Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi,… không ít đồng bào dân tộc thiểu số đã thoát nghèo, vươn lên khá giả nhờ làm du lịch từ chính ngôi nhà, trang phục, nghề truyền thống và phong tục của dân tộc mình.
Ở bản Áng (phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La), nhiều hộ dân tộc Thái đã cải tạo nhà sàn truyền thống thành homestay phục vụ khách du lịch. Du khách đến đây không chỉ nghỉ ngơi mà còn được trải nghiệm dệt thổ cẩm, thưởng thức xôi ngũ sắc, múa xòe, nghe khắp Thái giữa không gian văn hóa đặc trưng của núi rừng Tây Bắc. Từ chỗ chỉ dựa vào nương rẫy, nhiều gia đình nay có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ du lịch cộng đồng.
Còn tại làng văn hóa du lịch cộng đồng Nặm Đăm (xã Quản Bạ, tỉnh Tuyên Quang), đồng bào Dao đã biến những ngôi nhà trình tường truyền thống thành điểm lưu trú hấp dẫn du khách quốc tế. Chính bản sắc văn hóa độc đáo đã giúp Nặm Đăm trở thành một trong những mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu của vùng cao, miền núi phía Bắc. Người dân vừa có thêm sinh kế, vừa nâng cao ý thức gìn giữ văn hóa truyền thống.
Điều đặc biệt là ở nhiều nơi, người dân không đánh đổi văn hóa để làm du lịch, mà ngược lại, chính du lịch đã tạo động lực để cộng đồng bảo tồn văn hóa tốt hơn. Những bộ trang phục từng ít được mặc trong đời sống thường ngày nay được gìn giữ cẩn thận. Những làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống từng đứng trước nguy cơ mai một nay lại vang lên trong các lễ hội, hoạt động du lịch cộng đồng.
Hiện cả nước có khoảng 300 làng du lịch cộng đồng và khoảng 5000 homestay, phần lớn năm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang hoạt động. Nhiều mô hình đã trở thành điểm sáng trong phát triển du lịch bền vững, góp phần nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân.
Không chỉ du lịch, văn hóa còn mở ra hướng phát triển kinh tế từ các sản phẩm truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Từ thổ cẩm của người Mông, người Thái; nhạc cụ dân tộc của người Ê-đê; nghề dệt lanh của đồng bào Mông ở tinh Tuyên Quang; đến nghề làm giấy dó của người Dao ở tỉnh Cao Bằng… tất cả đang dần trở thành sản phẩm OCOP, sản phẩm lưu niệm phục vụ du lịch và xuất khẩu.
Ở nhiều địa phương, các sản phẩm thủ công truyền thống không còn là nghề phụ mà đang trở thành nguồn thu nhập quan trọng của người dân. Những người phụ nữ vùng cao, miền núi trước đây chỉ bám bên nương rẫy, nay có thể kiếm thêm thu nhập nhờ dệt thổ cẩm, may trang phục truyền thống, làm đồ thủ công phục vụ du khách…
Tại xã Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), nghề dệt thổ cẩm của phụ nữ Mông từng có thời gian mai một do sản phẩm khó tiêu thụ. Nhưng khi du lịch phát triển, những tấm vải thổ cẩm với hoa văn tinh xảo lại được du khách yêu thích. Nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã được thành lập, giúp sản phẩm có đầu ra ổn định hơn. Không ít phụ nữ vùng cao, miền núi nhờ đó có thu nhập từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng mỗi tháng.
Văn hóa cũng đang trở thành “cầu nối” để nhiều địa phương xây dựng thương hiệu riêng. Nếu nhắc đến Tây Nguyên là nhắc tới không gian văn hóa cồng chiêng, nhắc tới Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) là nhớ phiên chợ vùng cao rực rỡ sắc màu, thì Pù Luông (tỉnh Thanh Hóa) lại ghi dấu bằng những bản làng người Thái bình yên bên ruộng bậc thang. Chính văn hóa tạo nên sức hút khác biệt cho mỗi vùng đất.
Nhiều chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, những giá trị văn hóa địa phương càng trở nên quan trọng bởi đó là yếu tố không thể sao chép. Một địa phương có thể xây dựng hạ tầng giống nhau, nhưng bản sắc văn hóa là điều tạo nên dấu ấn riêng và sức cạnh tranh bền vững.
Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh phát triển bền vững, điều quan trọng nhất vẫn là bảo tồn đúng cách. Nếu khai thác thiếu kiểm soát, chạy theo lợi nhuận trước mắt, văn hóa rất dễ bị thương mại hóa, biến dạng và mất đi giá trị nguyên bản.
Thực tế cho thấy, ở một số nơi, việc tổ chức lễ hội, biểu diễn văn nghệ phục vụ khách du lịch còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu văn hóa. Một số bản du lịch cộng đồng xây dựng ồ ạt, thiếu quy hoạch, làm mất đi không gian truyền thống. Đây là điều cần được nhìn nhận nghiêm túc để tránh việc phát triển du lịch nhưng lại làm tổn thương chính giá trị văn hóa vốn có.
Nói đến phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nói đến vai trò của con ngườiTiến sĩ Đinh Thị Phương Lan, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội chuyên trách Trung ương thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội khoá XVI tỉnh Quảng Ngãi từng nhận định: “Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững. Nếu biết khai thác hợp lý, văn hóa sẽ tạo ra giá trị kinh tế rất lớn, đồng thời góp phần củng cố bản sắc dân tộc và tăng cường sức mạnh cộng đồng”.
Nhận thức rõ điều đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (gọi tắt là Chương trình 1719) đã dành nguồn lực quan trọng cho công tác bảo tồn văn hóa, phục dựng lễ hội, hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, bảo tồn nghề truyền thống.
Nhiều địa phương cũng đang từng bước gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế cho người dân. Bởi chỉ khi người dân sống được bằng văn hóa, họ mới có động lực gìn giữ văn hóa lâu dài. Một điệu múa sẽ khó tồn tại nếu không còn người biểu diễn; một nghề truyền thống sẽ mất đi nếu không tạo ra thu nhập; một ngôn ngữ dân tộc sẽ dần mai một nếu lớp trẻ không còn muốn sử dụng.
Vì vậy, bảo tồn văn hóa hôm nay không còn là câu chuyện cất giữ trong bảo tàng, mà phải là bảo tồn trong đời sống, để văn hóa hiện diện tự nhiên trong sinh hoạt cộng đồng, trong phát triển kinh tế và trong nhịp sống hiện đại.
Ở nhiều bản làng vùng cao, miền núi, những người già vẫn miệt mài truyền dạy tiếng dân tộc cho con cháu, nghệ nhân vẫn kiên trì giữ nghề dệt, nghề đan lát, thổi khèn, đánh chiêng. Họ chính là những “kho báu sống” gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc.
Giữa miền núi Tây Bắc hay trên cao nguyên đầy nắng gió, văn hóa vẫn âm thầm phát triển trong đời sống cộng đồng như mạch nguồn bền chặt, gắn kết nuôi dưỡng bản sắc dân tộc. Và hôm nay, khi văn hóa được đánh thức đúng cách, nó không chỉ giúp người dân gìn giữ cội nguồn, mà còn mở ra con đường phát triển mới cho vùng cao.
Từ những điệu dân ca, mái nhà sàn, bộ váy thổ cẩm hay phiên chợ vùng cao, đồng bào các dân tộc thiểu số đang từng bước biến giá trị truyền thống thành sức mạnh phát triển. Đó không chỉ là hành trình giữ gìn bản sắc, mà còn là hành trình khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trong thời đại hội nhập.
Bởi suy cho cùng, phát triển bền vững không chỉ nằm ở những con đường mới mở hay những công trình hiện đại, mà còn ở việc một dân tộc biết gìn giữ ký ức văn hóa của mình để đi tới tương lai. Và ở nơi những bản làng vùng cao còn vang tiếng khèn, còn sáng bếp lửa cộng đồng, còn những con người tha thiết giữ gìn cội nguồn, ở đó văn hóa vẫn đang trở thành nguồn lực quý giá cho sự phát triển bền vững của đất nước./.