Trái bầu khô thường được ông Đinh Văn Rất (thôn T2, xã Kim Sơn) làm thành những cây đàn bầu (preng). Giữa cái nắng sớm len qua vách gỗ, trong căn nhà sàn giản dị ở thôn T2 (xã Kim Sơn, tỉnh Gia Lai), ông Đinh Văn Rất, vẫn kiên nhẫn gọt giũa từng chi tiết của cây đàn bầu (preng). Nổi bật trên thân đàn là trái bầu khô được gắn khéo léo, vừa tạo dáng, vừa giữ vai trò cộng hưởng âm thanh. Khi dây đàn khẽ rung, âm thanh trầm ấm ngân lên, lan tỏa giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng như mang theo hơi thở đại ngàn. Với người Ba-na, trái bầu khô không chỉ là một chi tiết kỹ thuật, mà còn là “linh hồn” làm nên sắc thái riêng của nhạc cụ truyền thống.
Đặt cây đàn sang một bên, ông Rất chậm rãi chia sẻ: Trên nương rẫy, ngoài lúa, bắp, mì, người Ba-na thường trồng thêm bầu để phục vụ đời sống. Cây bầu dễ thích nghi, nhưng để có quả đẹp, bà con phải chọn đất tốt, ưu tiên rẫy mới và kỹ lưỡng từ khâu giống. Khi thu hoạch, những trái già, dáng cân đối, vỏ mịn sẽ được giữ lại, đem phơi khô, rồi đục lỗ, lấy hạt, làm sạch ruột để chế tác thành nhiều vật dụng khác nhau, gắn bó bền bỉ với sinh hoạt thường ngày.
“Với người Ba-na, trái bầu khô từ lâu đã gắn bó mật thiết trong đời sống, đến nay, vẫn còn nhiều gia đình sử dụng. Riêng tôi thường chọn những trái bầu đẹp, vỏ dày, dáng cân đối để làm nhạc cụ, bởi bầu giúp âm thanh đàn vang chuẩn và ấm, mang đậm âm hưởng của núi rừng” - ông Rất chia sẻ.
Tại xã Ia Ly, giống bầu hồ lô cũng được đồng bào Gia-rai trồng phổ biến. Không chỉ là thực phẩm, vỏ trái bầu khô còn là vật dụng đựng nước, rượu, gạo trong sinh hoạt thường ngày hay làm lễ vật trong các nghi lễ truyền thống.
Bà Rơ Châm H’Xuyên ở làng Kép 2, xã Ia Ly cho hay: Mỗi năm, gia đình bà thu hoạch được khoảng 30-40 quả bầu đẹp, đủ điều kiện để giữ lại làm bầu khô. “Cách làm bầu khô tôi học lại từ bà, từ mẹ truyền dạy. Phụ nữ trong làng ai cũng biết làm cả. Trái bầu sau khi lấy hết ruột sẽ được phơi nắng, xử lý để vỏ cứng và lên màu đẹp. Có quả giữ màu tự nhiên, có quả nhuộm màu từ lá rừng. Khi dùng, bầu được đậy kín bằng nùi lá, rất tiện để đựng nước mỗi khi lên rẫy” - bà H’Xuyên nói.
Các bà, các chị ở làng Kép 2 (xã Ia Ly) sử dụng trái bầu khô làm dụng cụ đựng nước uống khi lên rẫy.Theo các già làng ở xã Ia Ly, trái bầu từ lâu đã gắn bó thân thuộc với đời sống cộng đồng. Trong mỗi gia đình, hình ảnh những quả bầu hồ lô treo trên kệ bếp rất quen thuộc. Ông Rơ Châm Anhơm (101 tuổi, ở làng Kép 1) cho biết: Không chỉ là vật dụng, người Gia-rai cho rằng, quả bầu còn mang ý nghĩa về sức mạnh, sự phát triển, được xem như biểu tượng đem lại may mắn cho cộng đồng. Việc sử dụng bầu khô hằng ngày cũng nhắc nhở con cháu trong gia đình luôn nhớ về nguồn cội, gắn kết cộng đồng khi cùng uống chung một bầu nước, bầu rượu và giúp cho những giá trị ấy được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Qủa bầu khô thành sản phẩm du lịch
Dù vẫn hiện diện trong đời sống buôn làng, nhưng trước nhịp sống hiện đại, việc sử dụng bầu khô đang dần ít hơn. Nhiều vật dụng bằng nhựa, kim loại thay thế khiến hình ảnh quả bầu mộc mạc không còn phổ biến như trước. Vì vậy, việc gìn giữ giá trị quả bầu khô cũng là gìn giữ một phần ký ức văn hóa cộng đồng.
Bà H’Uyên Niê - Phó ban Quản lý du lịch cộng đồng Ia Mơ Nông (xã Ia Ly) thông tin: Ban thường xuyên vận động các hộ dân, nghệ nhân ở các làng Kép 1, Kép 2, Phung duy trì trồng bầu để tạo nguồn nguyên liệu chế tác. Cùng với việc gìn giữ nghề truyền thống, từ năm 2024, Ban còn đưa trái bầu khô vào sản phẩm du lịch trải nghiệm. Du khách được tìm hiểu quy trình, tham quan, trải nghiệm và mua sản phẩm, góp phần tăng thu nhập cho người dân.
Ông Rơ Châm Mruych - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Ia Ly cho biết: Địa phương tiếp tục bảo tồn giá trị quả bầu khô theo hướng bền vững, gắn với đời sống người dân. Trong đó, khuyến khích hộ dân duy trì trồng bầu, giữ nguồn nguyên liệu chế tác; vận động nghệ nhân cải tiến sản phẩm và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ nhằm tránh mai một, từ đó người dân tự ý thức đây là nét văn hóa của cộng đồng để giữ gìn một cách tự nhiên, lâu dài.
Bà Trần Thị Yến, Phó Chủ tịch UBND xã Ia Khươl cho hay: Xã có trên 85% dân số là người Ba-na, Gia-rai. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã chỉ đạo các phòng tăng cường phối hợp các làng trong công tác tuyên truyền, lồng ghép bảo tồn văn hóa truyền thống vào sinh hoạt cộng đồng, lễ hội và phong trào quần chúng. Đồng thời gắn hình ảnh trái bầu khô với đời sống buôn làng, hướng đến phát triển du lịch cộng đồng, khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm từ trái bầu khô, làm phong phú đời sống tinh thần của người dân.
Trái bầu khô không chỉ là một vật dụng dùng trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là dấu nối ký ức giữa các thế hệ. Giữ gìn vật dụng này vì thế còn là bảo tồn một nét văn hóa, giữ lại hồn cốt của buôn làng.