Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

An Giang nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ dân tộc Khmer

Xuân Thương - 17:36, 16/10/2026

(DTTG) - Duy trì các lớp dạy tiếng nói, chữ viết Khmer tại cơ sở tôn giáo không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, phát huy vai trò của cộng đồng và bảo đảm chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng. Tại An Giang, việc triển khai chính sách hỗ trợ người trực tiếp giảng dạy đang tạo thêm điều kiện để các địa phương duy trì, mở rộng hoạt động dạy và học chữ Khmer, hướng tới hiệu quả bền vững.

Đoàn giám sát làm việc với Ban quản trị chùa Khmer tại xã Ô Lâm về tình hình tổ chức các lớp dạy tiếng nói, chữ viết Khmer và việc thực hiện chính sách hỗ trợ người trực tiếp giảng dạy
Đoàn giám sát làm việc với Ban quản trị chùa Khmer tại xã Ô Lâm về tình hình tổ chức các lớp dạy tiếng nói, chữ viết Khmer và việc thực hiện chính sách hỗ trợ người trực tiếp giảng dạy

Phát huy nguồn lực tại chỗ

Ở những địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer từ lâu giữ vai trò quan trọng trong việc truyền dạy tiếng nói, chữ viết và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống. Hoạt động này được duy trì chủ yếu nhờ sự đóng góp của chư tăng, tình nguyện viên, ban quản trị các chùa cùng sự quan tâm của chính quyền địa phương.

Tại hai xã Ô Lâm và An Cư, việc tổ chức các lớp học chữ Khmer trong dịp hè tiếp tục được mở rộng. Năm 2026, xã Ô Lâm có 14 ngôi chùa tổ chức 77 lớp học với 1.594 học viên; xã An Cư có 16 ngôi chùa mở 56 lớp, thu hút 1.275 học viên. Những con số này cho thấy nhu cầu học tiếng nói, chữ viết dân tộc trong cộng đồng vẫn lớn, đồng thời phản ánh khả năng huy động nguồn lực tại chỗ của các địa phương và cơ sở tôn giáo.

Tuy nhiên, để duy trì hoạt động dạy học ổn định, sự nhiệt tình của người dạy và sự đóng góp tự nguyện từ cộng đồng cần được bổ trợ bằng cơ chế chính sách phù hợp. Nguồn kinh phí hỗ trợ người trực tiếp giảng dạy theo Nghị quyết số 18/2026/NQ-HĐND của HĐND tỉnh An Giang có ý nghĩa thiết thực trong việc động viên đội ngũ chư tăng, tình nguyện viên tiếp tục tham gia truyền dạy tiếng nói, chữ viết Khmer.

Tại xã Ô Lâm, địa phương đã rà soát, lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền 554,4 triệu đồng. Trong khi đó, xã An Cư cho biết năm 2025 đã chi trả hơn 151 triệu đồng cho 36 người trực tiếp giảng dạy tại 55 lớp học. Việc hỗ trợ kinh phí góp phần chia sẻ chi phí tổ chức lớp học, khuyến khích người dạy gắn bó lâu dài và tạo điều kiện để hoạt động giáo dục ngôn ngữ dân tộc được duy trì thường xuyên hơn.

Từ thực tiễn này, có thể thấy chính sách hỗ trợ không đơn thuần là khoản chi ngân sách mà còn là một hình thức đầu tư cho nguồn lực văn hóa và giáo dục tại cộng đồng. Khi được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, chính sách sẽ tạo động lực để các cơ sở tôn giáo tiếp tục phát huy vai trò, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn đóng góp tự nguyện và nâng cao tính ổn định của các lớp học.

Đoàn giám sát làm việc với Ban quản trị chùa và khảo sát thực tế điểm dạy chữ Khmer tại một ngôi chùa ở xã Ô Lâm
Đoàn giám sát làm việc với Ban quản trị chùa và khảo sát thực tế điểm dạy chữ Khmer tại một ngôi chùa ở xã Ô Lâm

Gắn hỗ trợ kinh phí với hiệu quả sử dụng nguồn lực

Bên cạnh kết quả đạt được, việc tổ chức dạy chữ Khmer tại cơ sở tôn giáo vẫn còn những hạn chế về cơ sở vật chất, tài liệu và điều kiện học tập. Qua khảo sát tại chùa Sà Lôn, xã Ô Lâm, Đoàn giám sát ghi nhận tài liệu giảng dạy vẫn sử dụng bộ sách cũ do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tri Tôn trước đây cung cấp.

Thực tế này cho thấy, để chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, cần có cách tiếp cận đồng bộ, không chỉ tập trung vào kinh phí chi trả cho người dạy mà còn quan tâm đến điều kiện tổ chức lớp học. Phòng học bảo đảm, bàn ghế phù hợp, đủ ánh sáng và tài liệu được chuẩn hóa là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.

Hai địa phương kiến nghị tỉnh xem xét bổ sung tiêu chí, định mức phân bổ kinh phí phù hợp với đặc điểm những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời hỗ trợ sửa chữa phòng học, bổ sung trang thiết bị và cung cấp sách giáo khoa, tài liệu phục vụ giảng dạy. Đây là những yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tránh tình trạng có chính sách hỗ trợ nhưng điều kiện tổ chức dạy học chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.

Một vấn đề khác được đặt ra là tiến độ phân bổ kinh phí. Hai xã đề nghị Sở Tài chính đẩy nhanh việc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, phân bổ kinh phí hỗ trợ người dạy chữ Khmer năm 2026 để địa phương kịp thời thực hiện chi trả. Việc bảo đảm nguồn kinh phí đúng thời điểm không chỉ giúp chính sách đến với người thụ hưởng mà còn tạo điều kiện để các cơ sở tôn giáo chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức lớp học.

Cùng với ngân sách nhà nước, huy động nguồn lực xã hội hóa cũng là hướng đi cần được chú trọng. Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm và cộng đồng dân cư có thể góp phần bổ sung thiết bị, đồ dùng học tập, cải thiện cơ sở vật chất. Tuy nhiên, việc huy động và sử dụng các nguồn đóng góp cần được hướng dẫn rõ ràng, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích và phù hợp với quy định.

Để tránh dàn trải nguồn lực, việc hỗ trợ cần căn cứ vào số lượng lớp học, học viên, điều kiện cơ sở vật chất và khả năng đáp ứng của từng địa bàn. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các cơ sở tôn giáo quản lý tài chính, sử dụng kinh phí đúng quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.

Đầu tư cho giáo dục, tạo nền tảng bảo tồn văn hóa

Bên cạnh các lớp học tại chùa, giáo dục tiếng Khmer trong trường học cũng là một kênh quan trọng để mở rộng cơ hội học tập ngôn ngữ dân tộc. Tại xã An Cư, có 4 trường tiểu học tổ chức giảng dạy tiếng Khmer cho 1.866 học sinh dân tộc Khmer, chiếm khoảng 76% tổng số học sinh Khmer trên địa bàn.

Việc kết hợp giữa dạy học tại cơ sở tôn giáo và trong trường học góp phần mở rộng môi trường sử dụng tiếng Khmer, tạo điều kiện để thế hệ trẻ tiếp cận ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc mình. Vì vậy, phân bổ nguồn lực cần tính đến sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, chính quyền địa phương và cơ sở tôn giáo, bảo đảm các hoạt động bổ trợ cho nhau, đáp ứng nhu cầu học tập thực tế.

Hai xã cũng đề nghị ngành giáo dục hướng dẫn xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí và cung cấp tài liệu dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1 theo Thông tư số 23/2023/TT-BGDĐT. Điều này cho thấy nhu cầu đầu tư cho giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ dừng ở việc duy trì tiếng nói, chữ viết truyền thống mà còn gắn với việc chuẩn bị các điều kiện học tập, hỗ trợ trẻ em tiếp cận thuận lợi hơn với chương trình giáo dục phổ thông.

Tại buổi giám sát ngày 15/10, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang Giang Văn Phục nhấn mạnh sự cần thiết của việc thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ dạy tiếng nói, chữ viết Khmer. Kết luận buổi làm việc, ông Lê Thanh Dũng, Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh, đề nghị hai địa phương tiếp tục vận động người dân cho con em tham gia học chữ Khmer, duy trì và mở rộng quy mô lớp học, huy động nguồn lực xã hội hóa, đồng thời tăng cường kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí.

Lãnh đạo UBND xã Ô Lâm phát biểu tại buổi giám sát
Lãnh đạo UBND xã Ô Lâm phát biểu tại buổi giám sát

Về lâu dài, hiệu quả của chính sách cần được nhìn nhận không chỉ qua số lớp học được duy trì hay số tiền hỗ trợ được giải ngân, mà còn qua khả năng bảo đảm điều kiện dạy học, chất lượng truyền dạy và mức độ tham gia của cộng đồng. Khi nguồn lực ngân sách được phân bổ hợp lý, kết hợp với sự đóng góp của xã hội và cơ chế giám sát minh bạch, các lớp dạy chữ Khmer sẽ có điều kiện hoạt động ổn định hơn.

Đầu tư cho giáo dục ngôn ngữ dân tộc vì thế vừa đáp ứng nhu cầu học tập của đồng bào, vừa góp phần bảo tồn di sản văn hóa và củng cố nền tảng phát triển bền vững tại địa phương. Đây cũng là hướng tiếp cận cần thiết để chính sách hỗ trợ phát huy giá trị lâu dài, gắn hiệu quả sử dụng nguồn lực với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.