Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr chủ trì Hội thảoTrong bối cảnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai Hợp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 thuộc CTMTQG xây dựng nông thôn mới, giảm ngheò bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng cho việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn mới.
Ngày 29/5, tại Thanh Hóa, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức Hội thảo tham vấn hồ sơ dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung Hợp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030).
Hội thảo do Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr chủ trì, với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành Trung ương cùng lãnh đạo, cán bộ phụ trách công tác dân tộc của 10 tỉnh, thành phố gồm: Lào Cai, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Tuyên Quang, Ninh Bình, Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội.
Hoàn thiện hành lang pháp lý để chính sách đi vào cuộc sống
Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Y Vinh Tơr khẳng định: việc xây dựng Thông tư hướng dẫn là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
Theo Thứ trưởng, một chính sách tốt không chỉ nằm ở mục tiêu đúng mà còn phải được bảo đảm bằng hệ thống văn bản hướng dẫn rõ ràng, khả thi và phù hợp với thực tiễn. Nếu cơ sở pháp lý chưa đầy đủ hoặc chậm được ban hành, các địa phương sẽ gặp khó khăn trong xác định đối tượng thụ hưởng, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện cũng như phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
Thực tiễn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 cho thấy: nhiều địa phương đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm bình quân từ 3% đến 4% mỗi năm; hàng nghìn công trình hạ tầng thiết yếu được đầu tư; hàng triệu lượt người dân được tiếp cận các chính sách hỗ trợ về sinh kế, giáo dục, y tế, nhà ở và nước sinh hoạt.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn những tồn tại như tiến độ giải ngân chưa đồng đều giữa các địa phương, một số chính sách khó triển khai do thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc còn chồng chéo với các chương trình khác.
Chính vì vậy, việc xây dựng Thông tư hướng dẫn lần này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại, tạo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước, đồng thời phát huy tính chủ động của địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Chính sách phải sát thực tiễn, rõ trách nhiệm và nguồn lực
Một trong những nội dung thu hút nhiều ý kiến thảo luận tại hội thảo là các chính sách liên quan đến chuyển đổi số, hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, ổn định dân cư, phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ khởi nghiệp và chính sách dành cho các dân tộc còn nhiều khó khăn.
Đây đều là những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nhiều đại biểu cho rằng, trong giai đoạn mới, chính sách không chỉ dừng ở hỗ trợ an sinh mà cần hướng mạnh vào tạo sinh kế bền vững, nâng cao năng lực nội sinh của cộng đồng và thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển.
Đặc biệt, chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khi hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, người dân vùng sâu, vùng xa sẽ có cơ hội tiếp cận tri thức, thị trường, dịch vụ công và các mô hình sản xuất tiên tiến. Đây cũng là công cụ hữu hiệu để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.
Các đại biểu cũng đề nghị dự thảo Thông tư cần được rà soát kỹ lưỡng nhằm bảo đảm các quy định dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh trùng lặp với các chương trình mục tiêu quốc gia khác, đồng thời giảm tối đa thủ tục hành chính để người dân và cơ sở thuận lợi trong tiếp cận chính sách.
Một vấn đề được nhiều địa phương quan tâm là cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện cũng như cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành.
Vì vậy, thực tế cho thấy, ở những nơi xác định rõ trách nhiệm và nguồn lực thì việc triển khai chương trình thường đạt hiệu quả cao hơn, tiến độ nhanh hơn và hạn chế được tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.
Quang cảnh Hội thảoHướng tới mục tiêu phát triển bền vững và bao trùm
Phát biểu kết luận hội thảo, Thứ trưởng Y Vinh Tơr đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Thông tư theo hướng “rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ cơ chế phối hợp và bảo đảm tính khả thi cao”.
Theo Thứ trưởng, mục tiêu lớn nhất của việc hoàn thiện Thông tư không đơn thuần là bảo đảm tiến độ ban hành văn bản mà quan trọng hơn là xây dựng được cơ chế thực sự phù hợp với thực tiễn, giúp đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận chính sách nhanh hơn, thuận lợi hơn và hiệu quả hơn.
Điều đó cũng phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới, khi tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bao trùm.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải được thể hiện qua chất lượng cuộc sống của người dân, cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng, việc làm, chuyển đổi số và khả năng bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
Đây chính là tinh thần xuyên suốt của các chủ trương lớn của Đảng về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
Việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho Hợp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vì thế không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà còn là bước chuẩn bị quan trọng để hiện thực hóa khát vọng phát triển bền vững, toàn diện và bao trùm đối với hơn 14 triệu đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 14,3%) trên cả nước.
Khi cơ sở pháp lý được xây dựng đồng bộ, minh bạch và sát thực tiễn, các nguồn lực đầu tư sẽ được sử dụng hiệu quả hơn; các chính sách sẽ đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu và đúng thời điểm. Từ đó, tạo động lực mới để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát huy tiềm năng, lợi thế, vươn lên phát triển nhanh và bền vững, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong hành trình phát triển đất nước./.