Từ khóa: Chương trình Mục tiêu quốc gia; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững; Phát triển kinh tế - xã hội; Tích hợp.
1. Một số kết quả chủ yếu thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, trong hai năm 2021, 2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025 (Chương trình 1719); Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (Chương trình GNBV) và Quyết định số 263/QĐ-TTg 22/02/2022 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (Chương trình NTM) giai đoạn 2021-2025.
Ba Chương trình MTQG có đối tượng thụ hưởng khác nhau. Đối tượng của Chương trình GNBV là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo trong vòng 36 tháng kể từ thời điểm được cấp có thẩm quyền công nhận thoát nghèo. Ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo dân tộc thiểu số (DTTS), hộ nghèo có thành viên là người có công với cách mạng; Trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.
Đối tượng của Chương trình NTM là người dân, cộng đồng dân cư, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn.
Đối tượng của Chương trình 1719 là xã, thôn vùng đồng bào DTTS&MN; Hộ gia đình, cá nhân người DTTS; Hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở xã, thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK); Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, các tổ chức kinh tế hoạt động ở địa bàn các xã, thôn ĐBKK.
Sau khi các quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực tổ chức thực hiện và thu được nhiều kết quả quan trọng. Kết thúc giai đoạn 2021-2025, Chương trình NTM có 5/8 chỉ tiêu chủ yếu đã hoàn thành, vượt mức mục tiêu đề ra. 13 tỉnh được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM, trong đó có một số tỉnh, thành thuộc vùng đồng bào DTTS&MN: Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ, nay là Thành phố Hồ Chí Minh), Trà Vinh (cũ, nay là tỉnh Vĩnh Long). Thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2025 dự kiến đạt khoảng 58 triệu đồng/người/năm (tăng 1,4 lần so với năm 2020, cơ bản hoàn thành mục tiêu cả giai đoạn 2021-2025 được giao).
Chương trình GNBV đạt và vượt các chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm do Quốc hội và Chính phủ giao. Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo cuối năm 2024 còn 24,86%, bình quân giảm 6,7%/năm, vượt chỉ tiêu giao là giảm từ 4-5%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS cuối năm 2024 còn 12,55%, bình quân giảm 4,45%/năm, đạt chỉ tiêu giao là giảm từ 3%/năm.
Với Chương trình 1719, trong 9 nhóm mục tiêu cụ thể được Quốc hội giao, có 06 nhóm mục tiêu cơ bản đạt và vượt mục tiêu đề ra, gồm: Tỷ lệ giảm nghèo đạt bình quân 3,4%, dự kiến cả giai đoạn đạt 3,2% (đạt so với mức trên 3% mục tiêu kế hoạch giao); Thu nhập bình quân của người DTTS dự kiến hết giai đoạn đạt 45,9 triệu đồng tăng 3,3 lần so năm 2020 (mục tiêu tăng trên 2 lần); Nhóm mục tiêu về công tác giáo dục; Lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề; Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; Tăng cường công tác y tế để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại, tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN.
2. Định hướng chiến lược và chủ trương của Đảng, Nhà nước
Đảng và Nhà nước ta đặt mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu trên, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 yêu cầu: “Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bao trùm, nhất là khu vực đồng bào DTTS”. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu rõ: “tăng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, ưu tiên các vùng khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, phấn đấu không để chênh lệch lớn giữa các vùng”. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030: “Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng đa chiều, bao trùm, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ xã hội cơ bản; Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống lâu dài cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS&MN”. Trong đó đặc biệt là Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới yêu cầu: “Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết”, “Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn”.
Từ các định hướng, chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước tổ chức thực hiện 3 Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 có ý nghĩa quan trọng, là nguồn lực dẫn dắt, giúp phát triển nông nghiệp, nông thôn, giảm nghèo bền vững, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào DTTS&MN gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, do mỗi chương trình có mục tiêu, nguồn vốn, cơ chế thực hiện khác nhau nên rất khó để địa phương lồng ghép, dẫn đến tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, trùng lặp nhiệm vụ và manh mún chính sách.
Trước thực trạng này, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội đã đồng ý chủ trương tích hợp 03 Chương trình MTQG thành 01 Chương trình MTQG. Ngày 11/12/2025, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng NTM, GNBV và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2035 nhằm khắc phục hạn chế của giai đoạn trước, tiến tới quản lý thống nhất, hiệu quả, thực chất và bền vững hơn; Phát huy tính bổ trợ và liên thông, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu xây dựng NTM, GNBV và phát triển vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời giữ vững chính sách đặc thù, bản sắc văn hóa và điều kiện tự nhiên của từng vùng, miền.
Cấu trúc Chương trình MTQG sau tích hợp gồm 02 hợp phần: Hợp phần thứ nhất: Xây dựng NTM và GNBV; Hợp phần thứ hai: Phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN, phấn đấu đến 2030, có 70% số xã vùng đồng bào DTTS&MN đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó, tập trung đầu tư hạ tầng, tạo sinh kế, góp phần GNBV và đạt chuẩn NTM tại các xã, thôn vùng đồng bào DTTS&MN; Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc đi đôi với xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu; Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng và Nhà nước.
Hợp phần thứ hai của Chương trình kiên định bám sát chủ trương tại Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị; Kiên trì thực hiện các mục tiêu tại Nghị quyết số 88/2019/QH14, Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể và chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 và kiên quyết hành động sáng tạo nhằm giải quyết đồng bộ, hiệu quả nhóm vấn đề “05 nhất” vẫn còn tính thời sự cao trên địa bàn vùng đồng bào DTTS và MN gồm: (1) Điều kiện cơ sở hạ tầng khó khăn nhất; (2) Chất lượng nhân lực thấp nhất; (3) Kinh tế xã hội chậm phát triển nhất; (4) Tiếp cận dịch vụ khó khăn nhất; (5) Tỷ lệ hộ nghèo cao nhất.
Giáo dục vùng dân tộc thiểu số đã có bước tiến vượt bậc trong giai đoạn 2021-2025. (Trong ảnh: mỗi ngày đến trường là một ngày vui của các em học sinh dân tộc Lự)3. Cơ hội phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thứ nhất, tích hợp 3 chương trình MTQG thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước trong điều kiện bộ máy đã được tinh gọn, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm lồng ghép mục tiêu đa ngành, tăng cường phối hợp liên vùng, liên cấp.
Sau khi hoàn thành sắp xếp, từ 01/7/2025, cả nước có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã. Qua kết quả rà soát bước đầu, có khoảng 1.516 xã thuộc vùng đồng bào DTTS&MN, chia thành 03 khu vực theo trình độ phát triển, gồm: 700 xã khu vực III - xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), 288 xã khu vực II (xã khó khăn), 528 xã khu vực I (xã đang phát triển), khoảng 13.496 thôn ĐBKK. Ngoài ra còn một số địa bàn các xã, thôn khu vực biên giới, an toàn khu.
Chương trình mới vừa tiếp tục cụ thể hóa định hướng của Đảng, vừa là công cụ tổ chức thực hiện các chiến lược và kế hoạch quốc gia do Chính phủ ban hành; là giải pháp quan trọng để trực tiếp thực hiện nhiều Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) trong Chương trình Nghị sự 2030 của Liên Hợp quốc, đặc biệt là các mục tiêu về xóa nghèo, xóa đói, giáo dục chất lượng, nước sạch và vệ sinh, việc làm, giảm bất bình đẳng, phát triển cộng đồng bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” được quán triệt trong toàn bộ cấu trúc và nội dung của Chương trình, thể hiện cam kết chính trị - xã hội mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ cơ bản, phát triển toàn diện của mọi người dân, nhất là ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Thứ hai, tích hợp chương trình cho phép hình thành chuỗi phát triển liên hoàn. Thực tiễn cho thấy, còn nhiều vấn đề chưa được xử lý căn cơ đang cản trở mục tiêu phát triển bền vững, đòi hỏi phải có chính sách đồng bộ, dài hạn và quyết liệt hơn. Chẳng hạn trong khi nhiều địa phương vùng đồng bằng đã đạt mức độ cao về xây dựng NTM thì trung du, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, khu vực biên giới vẫn còn nhiều xã “trắng” tiêu chí, tỷ lệ nghèo cao, thiếu các điều kiện phát triển cơ bản. “Lõi nghèo” tập trung tại vùng sâu, vùng xa nên rất khó thực hiện các giải pháp thoát nghèo bền vững. Đồng bào DTTS chiếm hơn 2/3 tổng số hộ nghèo toàn quốc cho thấy công tác giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội còn nhiều khó khăn, thách thức. Thiếu hụt hạ tầng thiết yếu và dịch vụ cơ bản ở vùng ĐBKK vẫn còn rất nghiêm trọng. Nhiều xã nghèo, xã vùng cao, biên giới chưa có đường giao thông ổn định, nước sạch, trường học, trạm y tế đạt chuẩn…
Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, hiện còn 3/9 nhóm mục tiêu cụ thể được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 chưa đạt, trong đó có 02 nhóm mục tiêu dự báo gặp nhiều khó khăn, thách thức gồm: Nhóm mục tiêu về cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã ĐBKK và thôn ĐBKK; Nhóm mục tiêu về công tác định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Đây là những nhóm mục tiêu đòi hỏi mức độ tập trung và thời gian thực hiện dài hơn so với nhiều nhiệm vụ khác do trên địa bàn có những thách thức điển hình (địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, một số nhóm dân cư có tập quán sinh sống tại những nơi dễ bị ảnh hưởng bởi lũ quét, sạt lở đất…). Do vậy, rất cần cơ cấu lại chính sách và đầu tư theo hướng ưu tiên địa bàn khó khăn, ĐBKK, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp đặc thù từng vùng.
Thứ ba, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp từ năm 2025 tạo áp lực lớn cho hệ thống tổ chức thực hiện chương trình, buộc phải thiết kế lại cơ chế quản lý, giám sát và phối hợp liên ngành linh hoạt, tinh gọn, hiệu quả. Trong bối cảnh nguồn lực công hữu hạn, tích hợp không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà trở thành đòi hỏi tất yếu. Duy trì 3 chương trình, mỗi chương trình có hệ thống văn bản hướng dẫn, cơ quan chủ trì và quy trình quản lý riêng, nhưng khi tích hợp đòi hỏi một cơ chế điều phối đủ mạnh để vượt qua tư duy “quản lý theo chương trình” vốn đã ăn sâu trong bộ máy hành chính.
Thiết kế chương trình theo chu kỳ 10 năm (2026-2035) là cần thiết để bảo đảm tính liên tục chính sách, tạo điều kiện cho địa phương xây dựng kế hoạch trung - dài hạn, nâng cao hiệu quả đầu tư công và thu hút nguồn lực xã hội. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng càng cần kiên trì, kiên định để thực hiện bằng được mục tiêu xây dựng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” và “giảm nghèo đa chiều, phát triển bao trùm”. Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, với tính chất nhóm đối tượng đặc thù, địa bàn đặc thù, nhiều nội dung chính sách đặc thù thì xây dựng và thực hiện Hợp phần thứ hai sẽ dành sự chủ động tối đa cho các địa phương, theo quan điểm phân cấp mạnh mẽ, triệt để, đảm bảo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm”. Các cơ quan trung ương chỉ quản lý mục tiêu, chỉ tiêu, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để tạo hành lang thông thoáng cho các địa phương tổ chức thực hiện. Các địa phương có trách nhiệm rà soát, đánh giá kỹ thực trạng, nhu cầu, đặc điểm tình hình địa bàn để đề xuất các nhiệm vụ trọng tâm, tập trung vào một số nội dung trụ cột chính gồm: (1) Đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng vùng đồng bào DTTS&MN; (2) Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập của đồng bào DTTS; (3) Phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN; (4) Hỗ trợ, phát triển nhóm đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; (5) Công tác truyền thông, tuyên truyền; Kiểm tra, giám sát; Chế độ thông tin, báo cáo.
Thứ tư, về nguồn lực, tổng vốn dự kiến thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 khoảng 1,044 triệu tỷ đồng. Trước mắt, vốn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp là 100.000 tỷ đồng. Trong quá trình điều hành, Chính phủ tiếp tục cân đối ngân sách trung ương để ưu tiên hỗ trợ bổ sung cho Chương trình phù hợp với điều kiện thực tế theo nhu cầu đề xuất, để có đủ nguồn lực hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Một trong những nguyên tắc phân bổ vốn là tập trung ưu tiên phân bổ ngân sách trung ương ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển KT-XH, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững.
Thứ năm, tích hợp chương trình mở ra cơ hội nâng cao vai trò chủ thể của người dân. Thay vì tiếp nhận nhiều chương trình riêng lẻ, người dân và cộng đồng có thể tham gia vào một kế hoạch phát triển tổng thể của địa phương, từ đó tăng tính chủ động, trách nhiệm và sự gắn kết xã hội. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với vùng đồng bào DTTS&MN, nơi cộng đồng giữ vai trò trung tâm trong duy trì sinh kế, văn hóa và trật tự xã hội.
4. Kết luận
Tích hợp ba Chương trình Mục tiêu quốc gia là cần thiết để Chương trình Phát huy vai trò là một trong những công cụ trọng yếu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đối với vùng đồng bào DTTS&MN, Chương trình sẽ góp phần trực tiếp cụ thể hóa Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới và các nghị quyết của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu không để ai bị bỏ lại phía sau trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2025). Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
6. Quốc hội (2019). Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
7. Quốc hội (2020). Nghị quyết số 120/2020/QH14 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
8. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.