Ông Nguyễn Hoài Anh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì cuộc họpSáng ngày 15/10 vừa qua, tại Hà Nội, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo - Phó Trưởng Ban soạn thảo - Tổ trưởng Tổ Biên tập Nguyễn Hoài Anh chủ trì cuộc họp Tổ biên tập về xây dựng Đề án tổng kết, xây dựng nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX về công tác dân tộc.
Tại cuộc họp, các đại biểu cơ bản thống nhất với kết cấu đề cương báo cáo tổng kết, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đánh giá thực chất kết quả triển khai Nghị quyết qua 23 năm, làm rõ những hạn chế, nguyên nhân và điểm nghẽn trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Đây là cơ sở để xác định các quan điểm, mục tiêu và giải pháp phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đánh giá thực chất kết quả, tồn tại hạn chế sau 23 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW
Theo đề cương được trình bày tại cuộc họp, báo cáo tổng kết tập trung đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và thể chế hóa Nghị quyết số 24-NQ/TW cùng các kết luận của Bộ Chính trị về công tác dân tộc; kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trên những lĩnh vực chủ yếu; đồng thời phân tích thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
Phạm vi đánh giá bao quát các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện chính sách và huy động các nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng là những nội dung trọng tâm.
Toàn cảnh cuộc họp Tổ biên tập xây dựng Đề án tổng kết, xây dựng nghị quyết thay thế Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộcMột yêu cầu xuyên suốt được đặt ra là không dừng ở việc tổng hợp kết quả đầu tư, hỗ trợ hay những chuyển biến về hạ tầng, giảm nghèo, mà phải đánh giá đầy đủ mức độ hoàn thành từng mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Qua đó, làm rõ hiệu quả thực tế của chính sách đối với đời sống đồng bào, cơ hội phát triển, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc.
Đề cương bước đầu nhận diện một số hạn chế đáng chú ý trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết. Khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác vẫn còn đáng kể; nguy cơ tái tạo khoảng cách trong mô hình phát triển mới vẫn hiện hữu. Tiềm năng về tài nguyên, văn hóa và vị trí địa chiến lược chưa được khai thác tương xứng, trong khi mô hình phát triển ở nhiều địa bàn còn phụ thuộc nhiều vào nguồn hỗ trợ và đầu tư công, chưa phát huy đầy đủ nội lực của người dân.
Đại tá Vũ Thành Minh - Phó Cục trưởng Cục Dân vận Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam - Bộ Quốc phòng phát biểu ý kiến tại cuộc họpChất lượng nguồn nhân lực cũng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó, thể chế, chính sách liên quan đến công tác dân tộc chưa thực sự đồng bộ, chưa tạo được nền tảng pháp lý ổn định cho phát triển dài hạn. Cơ chế phân bổ, sử dụng nguồn lực chưa phát huy đầy đủ vai trò tạo động lực; năng lực quản lý và tổ chức thực hiện chính sách giữa các địa phương còn chưa đồng đều.
Ông Nguyễn Quốc Cường, Chuyên viên chính Vụ Công tác Quốc hội, Địa phương và Đoàn thể, Văn phòng Chính phủ phát biểu ý kiến tại cuộc họp
Những hạn chế này cho thấy bài toán phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực đầu tư, mà còn liên quan đến chất lượng thể chế, phương thức phân bổ nguồn lực, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng chuyển hóa tiềm năng thành động lực tăng trưởng.
Từ thực tế đó, các đại biểu đề nghị báo cáo tổng kết phải đi sâu phân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan của từng hạn chế; làm rõ trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp và tổ chức thực hiện. Các chuyên đề đã được sơ kết, tổng kết cần được tích hợp, bổ sung thông tin và luận cứ, bảo đảm báo cáo phản ánh đầy đủ chặng đường 23 năm thực hiện nghị quyết, tránh đánh giá chung chung hoặc chỉ dừng ở việc liệt kê kết quả.
Chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo năng lực phát triển
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, dự thảo nghị quyết mới được định hướng theo tư duy phát triển toàn diện, bền vững, bao trùm; coi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển quốc gia, thay vì tiếp cận chủ yếu thông qua các chính sách hỗ trợ riêng lẻ.
Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Xây dựng) phát biểu ý kiến tại cuộc họp
TS. Lê Cao Thắng, Giám đốc Học viện Dân tộc và Tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo), phát biểu ý kiến tại cuộc họp
Bà Lê Thị Hương, Chuyên viên cao cấp Vụ Xã hội, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, phát biểu ý kiến tại cuộc họp, tập trung trao đổi về những vấn đề cần làm rõ trong quá trình tổng kết 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc, góp phần hoàn thiện cơ sở thực tiễn và luận cứ chính sách phục vụ xây dựng nghị quyết mớiMột trong những định hướng đáng chú ý là chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang đầu tư phát triển và kiến tạo năng lực phát triển. Theo đó, chính sách không chỉ giải quyết những khó khăn trước mắt, bảo đảm an sinh xã hội, mà còn phải tạo điều kiện để đồng bào nâng cao năng lực sản xuất, phát triển sinh kế, tham gia thị trường và chủ động vươn lên.
Định hướng này đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các tiềm năng, lợi thế đặc thù của từng địa bàn, từ tài nguyên rừng, cảnh quan thiên nhiên, kinh tế xanh đến giá trị văn hóa của các dân tộc. Việc phát triển sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên canh, nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng tiếp cận tín dụng cần gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cùng với phát triển kinh tế, dự thảo nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng, tiến bộ xã hội, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Các chính sách về giáo dục, y tế, dân số, bình đẳng giới, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, xóa bỏ hủ tục lạc hậu tiếp tục được đặt trong tổng thể phát triển vùng. Việc phát huy vai trò Người có uy tín, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và củng cố hệ thống chính trị cơ sở cũng được xác định là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả chính sách.
Ông Phạm Hồng Đào, Phó Chánh Văn phòng Điều phố Trung ương - Chương trình Mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phát phiểu ý kiến tại cuộc họpĐáng chú ý, dự thảo đặt đồng bào dân tộc thiểu số ở vị trí chủ thể, trung tâm và mục tiêu của quá trình phát triển; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, bảo đảm nguồn lực chủ yếu và công bằng trong tiếp cận các cơ hội phát triển. Cách tiếp cận này đòi hỏi chính sách phải phù hợp hơn với điều kiện thực tế, đặc điểm văn hóa, năng lực sản xuất và nhu cầu của từng địa bàn, đồng thời tạo cơ chế để người dân tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách.
Trong bối cảnh mới, những thách thức như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, khoảng cách số, thay đổi cơ cấu dân số và lao động, di cư cũng như các vấn đề liên quan đến an ninh, quốc phòng khu vực biên giới cần được tính toán đầy đủ. Vì vậy, các giải pháp phát triển không chỉ hướng tới giải quyết khó khăn hiện tại mà còn phải nâng cao khả năng thích ứng, sức chống chịu và tính tự chủ của cộng đồng trước những biến động trong tương lai.
Đặt mục tiêu năm 2035 trong tương quan với mặt bằng chung cả nước
Theo định hướng tại đề cương, mục tiêu tổng quát của nghị quyết mới là phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng nhanh, bền vững, bao trùm; phát huy mạnh mẽ tiềm năng, lợi thế vùng và nội lực của đồng bào; từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng với mặt bằng chung cả nước, cũng như giữa các dân tộc và nhóm dân cư.
Các mục tiêu cụ thể đến năm 2035 đang được đề xuất theo hướng gắn kết quả phát triển vùng với các chỉ tiêu phát triển quốc gia.
Về kinh tế và giảm nghèo, đề cương đề xuất mục tiêu thu nhập của người dân tộc thiểu số đạt bằng 2/3 mức bình quân cả nước; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm xuống dưới 5%; không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn và 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 30% đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại.
Trong lĩnh vực y tế, dự kiến tỷ lệ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế xã đạt trên 50%, đồng thời chuẩn hóa đội ngũ nhân viên y tế thôn, cô đỡ thôn bản và cộng tác viên dân số. Đối với phát triển nguồn nhân lực, đề cương đặt mục tiêu tăng tối thiểu 10% mỗi năm về quy mô đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ là người dân tộc thiểu số; tuyển sinh dự bị đại học tăng ít nhất 10% mỗi năm.
Đây là các chỉ tiêu được đưa ra trong quá trình xây dựng đề cương, một số nội dung vẫn cần tiếp tục rà soát, xác định cụ thể trên cơ sở số liệu thực tế và sự thống nhất với các nghị quyết, chương trình, chiến lược có liên quan. Những chỉ tiêu về tỷ lệ lao động qua đào tạo và khả năng tự cân đối ngân sách của các tỉnh trong vùng cũng cần được nghiên cứu, lượng hóa phù hợp.
Đến năm 2045, định hướng đặt ra là đưa thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiệm cận hoặc tương đương mặt bằng chung của cả nước. Vùng từng bước phát triển dựa nhiều hơn vào kinh tế xanh, kinh tế số và các lợi thế đặc thù; tỷ lệ nghèo đa chiều tiệm cận mức chung cả nước; chất lượng nguồn nhân lực, các chỉ số sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu cơ bản ngang bằng mặt bằng chung.
Cùng với đó, các giá trị văn hóa dân tộc cần được bảo tồn, phát huy trong môi trường hiện đại, trở thành nguồn lực đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội. Công tác dân tộc hướng tới mô hình quản trị hiện đại, số hóa, dựa trên dữ liệu và kết quả; hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ năng lực tham gia lãnh đạo, quản lý và phát triển địa phương.
Điểm quan trọng trong cách tiếp cận mục tiêu là phải đặt sự phát triển của vùng trong tương quan với cả nước, qua đó xác định rõ khoảng cách cần thu hẹp, mức độ đóng góp của từng chính sách và những lĩnh vực cần ưu tiên nguồn lực. Đây cũng là căn cứ để thiết kế hệ thống chỉ tiêu có thể đo lường, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện.
Hoàn thiện thể chế, xác định giải pháp đột phá
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Hoài Anh đề nghị dự thảo nghị quyết cần xác định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp tương ứng với mốc năm 2035, định hướng đến năm 2045. Việc xây dựng mục tiêu phải dựa trên kết quả tổng kết 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời cập nhật, bám sát các chủ trương, định hướng mới của Đảng, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống chính sách.
Thứ trưởng Thường trực nhấn mạnh yêu cầu xem xét các chỉ tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong mối tương quan với mặt bằng chung cả nước. Các lĩnh vực như thu nhập bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người, y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu cần được nghiên cứu để xác định mức độ tiệm cận với mục tiêu phát triển quốc gia.
Đặc biệt, dự thảo cần xác định được những giải pháp mang tính đột phá để xử lý các điểm nghẽn đã được nhận diện qua quá trình tổng kết. Các giải pháp phải có cơ sở thực tiễn, xác định rõ nhiệm vụ, nguồn lực, trách nhiệm tổ chức thực hiện và khả năng đo lường kết quả, tránh tình trạng mục tiêu cao nhưng thiếu cơ chế triển khai tương ứng.
Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Hoài Anh đề nghị các thành viên Tổ biên tập và đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương chủ động rà soát chủ trương của Đảng, quy định pháp luật và các mục tiêu thuộc lĩnh vực quản lý; trên cơ sở đó, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp sát thực tế, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với định hướng chung.
Ông Nguyễn Hoài Anh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo, phát biểu kết luận cuộc họp, yêu cầu tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu, tiếp tục hoàn thiện đề cương báo cáo tổng kết 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu và các giải pháp đột phá nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn chính sách, tạo động lực phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mớiBộ Dân tộc và Tôn giáo sẽ tiếp thu đầy đủ ý kiến tại cuộc họp, tiếp tục rà soát đề cương chi tiết và danh mục hồ sơ, tài liệu trình cấp có thẩm quyền. Bộ phận thường trực có trách nhiệm tổng hợp ý kiến, tham mưu phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Tổ biên tập, phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện đề án; đồng thời rà soát, kiện toàn Ban soạn thảo và Tổ biên tập phù hợp với những thay đổi về nhân sự tại một số cơ quan, đơn vị.
Theo kế hoạch được nêu tại cuộc họp, các tài liệu tiếp tục được chuẩn bị để trình Ban soạn thảo xem xét trong tháng 10/2026. Hồ sơ sẽ được hoàn thiện theo quy trình, trình cấp có thẩm quyền xem xét, cho ý kiến.
Việc xây dựng nghị quyết mới về công tác dân tộc không chỉ nhằm tổng kết một chặng đường thực hiện chủ trương của Đảng, mà còn hướng tới xác lập tư duy và động lực phát triển mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Yêu cầu đặt ra là chuyển những bài học từ thực tiễn thành cơ chế, chính sách có tính dài hạn; chuyển nguồn lực đầu tư thành năng lực phát triển; đồng thời bảo đảm đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội tham gia, đóng góp và thụ hưởng công bằng hơn thành quả phát triển của đất nước./.