Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay là một hệ thống thể chế hiện đại , đồng bộ, sống động và nhất quán với các chuẩn mức quốc tế về quyền con ngườiTừ khóa: Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; Hiến pháp 2013; Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2026; Quyền con người.
1. Đặt vấn đề
Tính đến hiện nay, cả nước có trên 27,7 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm hơn 27% dân số cả nước, hơn 61.000 chức sắc, 145.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự và 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau đã được Nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Sự phong phú này tạo nên một bức tranh văn hóa - tâm linh đa sắc màu, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý nhà nước làm sao để vừa tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của Nhân dân, vừa giữ vững trật tự, kỷ cương và bảo vệ an ninh quốc gia.
Trải qua 80 năm phát triển của đất nước, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo liên tục được cập nhật, đổi mới và hoàn thiện. Sự đổi mới thể chế trong giai đoạn hiện nay chính là việc cụ thể hóa nguyên tắc tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 qua từng chặng đường từ Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo 2004, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 được thông qua ngày 23/4/2026. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đánh dấu bước tiến đột phá trong kỹ thuật lập pháp và tư duy quản trị nhà nước hiện đại, chủ động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình tinh gọn bộ máy hành chính.
2. Tiến trình lập hiến và pháp luật
Nội hàm pháp lý về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam được hình thành và nâng cao qua các thời kỳ lập hiến. Tiến trình lập hiến Việt Nam thể hiện sự ghi nhận và bảo đảm nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã khẳng định Quyền tự do tín ngưỡng là một trong năm quyền cơ bản của công dân. Điều 10, Chương II - Nghĩa vụ và quyền lợi công dân, ghi rõ: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 31/12/1959, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và mở rộng hơn, công dân không chỉ có quyền “theo tôn giáo” mà còn có quyền “không theo một tôn giáo nào”. Điều 26, Chương III - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Hiến pháp năm 1980 ngoài việc ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo, còn quy định nội dung phòng ngừa việc lợi dụng tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, chính sách của Nhà nước: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 68, Chương V - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân).
Hiến pháp năm 1992 thể hiện quan điểm bình đẳng giữa các tôn giáo và trách nhiệm bảo hộ của nhà nước đối với nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 70, Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.
Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển mới với ba điểm đột phá về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, biểu thị góc nhìn của Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền công dân theo hướng ngày càng hoàn thiện, dân chủ, bình đẳng, đó là: 1/ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một nội dung quan trọng của Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; 2/ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người; 3/ Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 hiến định như sau: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.”. Đây là sự đổi mới quan trọng về chủ thể của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ thể không chỉ giới hạn ở “công dân” Việt Nam mà là quyền của tất cả “mọi người” và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi… Hiến pháp năm 2013 cho thấy chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là một nhu cầu và là quyền tất yếu của mọi người, cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để mọi người thực hiện tốt nhất quyền đó.
Sau Hiến pháp là hệ thống văn bản pháp luật, như các nghị định, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đều khẳng định quyền tự do tôn giáo của người dân. Nghị quyết số 25-NQ/TW là văn bản pháp lý triển khai các vấn đề liên quan tới tôn giáo sau đổi mới, nhấn mạnh 5 quan điểm chính sách đối với tôn giáo, trong đó có 3 nội dung liên quan tới quyền tự do tôn giáo. Ngày 18/6/2004, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành, trong đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định ngay trong Điều 1. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thông qua ngày 18/11/2016 là văn bản pháp lý thay thế cho Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó quyền tự do tôn giáo của người dân được quy định trong Điều 3 và Chương II dành riêng về Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với 3 điều quy định về quyền (Điều 6, Điều 7, Điều 8) và 1 điều quy định về nghĩa vụ (Điều 9).
3. Khung pháp lý hiện hành
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16) ra đời đã cụ thể hóa sinh động tinh thần Hiến pháp 2013, tạo ra một bước tiến vượt bậc so với Luật 2016. Khung pháp lý hiện hành tập trung vào các nội dung trọng tâm, cụ thể:
Thứ nhất, xác lập địa vị bình đẳng và mở rộng chủ thể thực hiện quyền
Pháp luật Việt Nam hiện nay xác lập cơ chế bảo đảm bình đẳng giữa các tôn giáo và mở rộng quyền đến mọi nhóm đối tượng.
Cá nhân và cộng đồng dân cư, mọi người có quyền bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, học tập giáo lý, giáo luật. Đáng chú ý, Luật 2026 bổ sung khái niệm và vị thế của “Cộng đồng dân cư” trong việc quản lý, bầu ban quản lý cơ sở tín ngưỡng như đình, đền, miếu..., trao quyền tự quyết sinh hoạt văn hóa tâm linh cho Nhân dân cơ sở dưới sự hỗ trợ của Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương.
Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước bảo hộ quyền sinh hoạt tôn giáo tập trung tại các địa điểm hợp pháp, được mời chức sắc người Việt Nam hoặc nước ngoài giảng đạo, được mang theo xuất bản phẩm tôn giáo phục vụ nhu cầu cá nhân.
Người bị hạn chế quyền công dân, tiếp nối tinh thần nhân văn, người đang bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù, hoặc chấp hành biện pháp giáo dưỡng, cai nghiện bắt buộc vẫn có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tâm linh tại nơi giam giữ/cơ sở bắt buộc.
Thứ hai, pháp lý hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Đây là điểm mới có tính đột phá nhất của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, giải quyết khoảng trống pháp lý mà các văn bản trước đây chưa bao quát hết trong kỷ nguyên số.
Về định danh pháp lý, Khoản 17 Điều 2 bổ sung khái niệm “Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng”, thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của các hình thức sinh hoạt, giảng đạo, truyền đạo, quyên góp trực tuyến.
Về cơ chế quản lý công khai, minh bạch, Điều 8 quy định rõ quy trình thông báo, đăng ký khi tổ chức tôn giáo, chức sắc tổ chức các khóa lễ, đại hội hoặc thuyết giảng quy mô lớn trên các nền tảng mạng xã hội hay ứng dụng trực tuyến.
Về chế tài xử lý vi phạm công nghệ cao, bổ sung nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo (AI) hay công nghệ truyền thông để giả mạo tổ chức tôn giáo, lừa đảo quyên góp, hoặc phát tán nội dung xúc phạm niềm tin tâm linh của người khác.
Thứ ba, phân cấp, phân quyền triệt để theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Nhằm thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy và đẩy mạnh cải cách hành chính, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 tái cấu trúc triệt để thẩm quyền quản lý nhà nước.
Luật bãi bỏ toàn bộ quy định giao thẩm quyền cho UBND cấp huyện trong việc giải quyết các thủ tục tôn giáo. Cấp xã được giao thẩm quyền tiếp nhận thông báo, đăng ký các cuộc lễ, đại hội, hoạt động giảng đạo có phạm vi trong 01 xã. Điều này giúp cắt giảm trung gian, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các tổ chức tôn giáo. Cấp tỉnh và Trung ương đảm nhận công việc quy mô lớn, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm xử lý các hồ sơ quy mô liên xã; Bộ Dân tộc và Tôn giáo thống nhất quản lý các vấn đề quy mô toàn quốc hoặc quốc tế.
Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh Chính phủ số và phân định nhân sự
Sự chuyển biến trong quy trình hành chính qua các thời kỳ pháp luật. Về mô hình quản lý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Nghị định 95/2023/ NĐ-CP ngày 29/12/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định 95/2023/NĐ-CP) là sự kết hợp giữa cấp phép và đăng ký; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 đẩy mạnh từ xin phép sang thông báo - đăng ký. Về hồ sơ lý lịch, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Nghị định 95/2023/NĐ-CP yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 đã bãi bỏ hoàn toàn Phiếu lý lịch tư pháp (truy xuất qua Dữ liệu dân cư). Về đăng ký nhân sự, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Nghị định 95/2023/NĐ-CP quy định chung cho mọi trường hợp; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 phân định rạch ròi, bầu cử gửi thông báo sau, bổ nhiệm gửi đăng ký trước. Về cơ chế thụ lý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Nghị định 95/2023/ NĐ-CP tiếp nhận hồ sơ giấy trực tiếp; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 số hóa 100% qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Việc phân định rạch ròi cơ chế đăng ký nhân sự tại Điều 31 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026, nếu bầu cử tại đại hội thì thông báo kết quả sau, nếu bổ nhiệm/suy cử thì đăng ký trước đã giải quyết triệt để sự chồng chéo thủ tục từng gây ách tắc cho các giáo hội trong nhiều năm.
4. Ranh giới pháp lý tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Mọi quyền tự do cá nhân đều có ranh giới và tự do tôn giáo không phải là một quyền tuyệt đối vượt lên trên lợi ích cộng đồng hay an ninh quốc gia. Quy định của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Khoản 3 Điều 18 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR): Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc niềm tin chỉ có thể bị hạ thấp bởi các giới hạn do pháp luật quy định và cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng...
Thứ nhất, các hành vi bị nghiêm cấm
Điều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và tiếp tục được hoàn thiện tại Điều 7 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 quy định nghiêm cấm các hành vi: 1/ Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; 2/ Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; 3/ Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo, chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo; 4/ Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, chủ quyền, trật tự an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội, tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác; 5/ Lợi dụng không gian mạng và công nghệ số để trục lợi tâm linh hoặc vi phạm pháp luật.
Thứ hai, kỹ thuật dẫn chiếu pháp lý tiến bộ và biện pháp chế tài
Điểm mới xuất sắc của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 là bãi bỏ các quy định xử lý vi phạm riêng lẻ vốn dễ gây chồng chéo với luật chuyên ngành để áp dụng kỹ thuật dẫn chiếu mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm sẽ trực tiếp bị xử lý theo Luật Xử lý vi phạm hành chính hoặc Bộ luật Hình sự.
Đồng thời, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 bổ sung các biện pháp chế tài quản lý rất rõ ràng: 1/ Thu hồi văn bản đăng ký sinh hoạt tập trung, nếu nhóm sinh hoạt không tổ chức hoạt động trong vòng 06 tháng liên tục; 2/ Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nếu tổ chức không triển khai hoạt động trong vòng 01 năm; 3/ Đình chỉ chức vụ, chức việc, đối với cá nhân lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
5. Những vấn đề đặt ra hiện nay và kiến nghị chính sách
Thứ nhất, những vấn đề đặt ra hiện nay
Thực tiễn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được những kết quả rất sinh động. Hàng nghìn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo lớn như Đại lễ Phật đản, Giáng sinh, lễ Vu lan, Đại hội Nhơn sanh... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo tín đồ tham gia. Các cơ sở thờ tự được sửa chữa, xây mới; các trường đào tạo chức sắc như Học viện Phật giáo, Đại chủng viện Công giáo, Viện Thánh kinh Thần học... mở rộng quy mô, đáp ứng nhu cầu tu học chính đáng. Việt Nam đăng cai thành công nhiều sự kiện tôn giáo toàn cầu như Đại lễ Phật đản Vesak Liên Hợp quốc, các hội nghị Giám mục Á châu... Quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican phát triển tích cực với việc nâng cấp Đại diện Thường trú Tòa thánh tại Việt Nam đi vào hoạt động ổn định.
Sự xuất hiện của các nhóm mượn danh tâm linh để lừa đảo, chữa bệnh bằng năng lượng siêu nhiên, hay truyền bá tư tưởng lệch chuẩn trên các nền tảng mạng xã hội đòi hỏi các cơ quan chức năng phải nâng cao năng lực giám sát công nghệ. Cần tiếp tục đồng bộ hóa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 với Luật Đất đai (sửa đổi) trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở thờ tự và quản lý minh bạch các nguồn tiền công đức, từ thiện.
Thứ hai, kiến nghị chính sách
Để Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 phát huy tối đa hiệu quả trong thực tiễn cần một số giải pháp chính sách.
Nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành. Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác tôn giáo cấp xã. Vì thẩm quyền trực tiếp đã được giao về cấp xã, cần tổ chức các đợt tập huấn chuyên sâu về lý luận tôn giáo và kỹ năng quản lý cho đội ngũ công chức cơ sở.
Đổi mới công tác thông tin đối ngoại. Chủ động tuyên truyền các điểm mới tiến bộ của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 ra cộng đồng quốc tế, kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển xã hội. Khuyến khích các tổ chức tôn giáo tham gia sâu hơn vào giáo dục mầm non, y tế từ thiện, bảo trợ xã hội và bảo vệ môi trường, biến niềm tin tâm linh thành sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
6. Kết luận
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay là một hệ thống thể chế hiện đại, đồng bộ, sống động và nhất quán với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 thể hiện tầm nhìn chiến lược của Nhà nước vừa giải phóng tối đa các nguồn lực tinh thần và tài lực của tôn giáo cho sự phát triển bền vững của đất nước, vừa thiết lập công cụ quản lý văn minh, hiệu quả trong thời đại số.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 07/2026/QH16, thông qua ngày 23/4/2026).
3. Nguyễn Văn Hương (2024). Pháp luật và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Tạp chí Luật sư Việt Nam.
4. Sở Nội vụ tỉnh Tuyên Quang (2024). Pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Trang thông tin điện tử Sở Nội vụ tỉnh Tuyên Quang.
5. Viện Dân tộc học và Tôn giáo học (2026). Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trong chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS).
6. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026). Giới thiệu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 và các điểm mới cơ bản.
7. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022). Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Hà Nội, Nxb. Thế giới.
8. Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4 và Tập 10). Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.