Người lưu giữ tài sản quý của cộng đồng
Trong ngôi nhà sàn truyền thống nằm yên bình bên dòng Pô Kô, gia đình ông A Lủi hiện sở hữu sáu chiếc thuyền độc mộc. Trong đó, bốn chiếc do chính tay ông đẽo, hai chiếc còn lại được mua từ người dân trong làng khi họ không còn nhu cầu sử dụng. Với ông, những con thuyền này có giá trị đặc biệt, là tài sản quý giá được gia đình trân trọng, gìn giữ.
Cũng như nhiều người dân ở làng Lung Leng, ông A Lủi không biết chính xác thuyền độc mộc xuất hiện từ bao giờ và ai là người đầu tiên tạo ra loại thuyền này. Chỉ biết rằng, nghề đẽo thuyền độc mộc ở làng Lung Leng đã được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ông A Lủi cũng học nghề từ cha, rồi tích lũy thêm kinh nghiệm trong quá trình gắn bó với sông nước.
Ông A Lủi là một trong số ít nghệ nhân còn nắm giữ được kỹ thuật đẽo thuyền độc mộcTrong ký ức của ông, khoảng 15 năm trước, trong làng có nhiều người biết làm thuyền, có thời điểm cả làng có khoảng năm mươi chiếc thuyền độc mộc. Đến nay, số người biết nghề ngày càng ít, hình ảnh con thuyền cũng dần thưa vắng trên bến sông quê.
Theo ông A Lủi, để làm một chiếc thuyền độc mộc, một nhóm từ năm đến bảy thanh niên khỏe mạnh phải vào rừng sâu tìm cây gỗ phù hợp. Cây được chọn phải lớn, thẳng và có tuổi đời lên tới vài chục năm. Các loại gỗ thường được sử dụng là sao xanh, lim bởi khi còn tươi thì mềm, dễ đẽo, nhưng khi khô lại rất dai, bền và chịu nước tốt.
Sau khi chọn được cây, những người thợ bắt đầu đẽo, khoét lòng và tạo dáng cho thuyền. Toàn bộ công đoạn đều được thực hiện thủ công, kéo dài nhiều ngày, đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo và kinh nghiệm. Thuyền không có kích thước cố định mà phụ thuộc vào thân cây được lựa chọn, thường dài từ năm đến chín mét. Nếu được bảo quản tốt, chiếc thuyền có thể sử dụng từ hai mươi đến ba mươi năm.
Không có khuôn mẫu nên mỗi chiếc thuyền được tạo nên lại là một “tác phẩm nghệ thuật” mang dấu ấn riêng của người thợ. Dáng thuyền thon dài, hai đầu nhọn giúp thuyền dễ dàng luồn lách, vượt qua những đoạn sông hẹp, nhiều ghềnh đá ở vùng cao.
Không chỉ gắn với đời sống lao động, thuyền độc mộc còn mang trong mình những dấu ấn lịch sử. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, thuyền độc mộc từng được sử dụng để vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược và đưa bộ đội vượt sông phục vụ chiến đấu. Đến nay, dù không còn phổ biến như trước, thuyền độc mộc vẫn được một số người dân sử dụng để đi lại, đánh bắt thủy sản trên sông.
Đua thuyền độc mộc trên sông Pô KôTay chèo cừ khôi trên dòng Pô Kô
Không chỉ thành thạo nghề đẽo thuyền, ông A Lủi còn nổi tiếng là một tay đua thuyền độc mộc cừ khôi. Trong nhiều năm tham gia các giải đua, ông đã giành gần ba mươi huy chương cho cá nhân và tập thể.
Theo ông A Lủi, điều khiển thuyền độc mộc không đơn giản. Trên những đoạn sông chảy xiết, người chèo phải vững tay, giữ thăng bằng tốt và am hiểu về dòng nước để kịp thời xử lý khi gặp đá ngầm, dòng xoáy.
“Thông thường, một chiếc thuyền cần hai người điều khiển. Người phía trước dùng mái chèo để định hướng, người phía sau dùng mái chèo tạo lực đẩy. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai người quyết định tốc độ và khả năng giữ thăng bằng của chiếc thuyền” - ông A Lủi cho biết.
Dưới sự dẫn dắt của ông A Lủi, làng Lung Leng hiện vẫn duy trì đội đua thuyền độc mộc gồm sáu thành viên. Đây được xem là một trong những đội đua thuyền độc mộc nổi tiếng nhất tỉnh Quảng Ngãi khi thường xuyên giành nhiều giải thưởng cao tại Giải đua thuyền độc mộc do tỉnh tổ chức hằng năm.
Với người dân nơi đây, những cuộc đua không đơn thuần là màn tranh tài trên sông. Qua mỗi mùa hội, kỹ năng chèo thuyền, tinh thần đoàn kết và những giá trị văn hóa gắn với dòng Pô Kô lại được tiếp nối, trao truyền cho thế hệ sau.
Để thuyền độc mộc tiếp tục hiện diện trong đời sống, việc bảo tồn cần gắn với thựchành và sinh kế của người dân. Bên cạnh duy trì các cuộc đua, địa phương cần tổ chức các lớp truyền dạy kỹ thuật đẽo, sửa chữa và chèo thuyền; tạo điều kiện vềnguồn nguyên liệu để người biết nghề tiếp tục thực hành, đồng thời kết nối bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, qua đó mở thêm cơ hội sinh kế cho cộng đồng người Gia-rai nơi đây.