Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Những người giữ màu xanh đại ngàn

Nguyễn Duy Dũng - Đinh Thị Y Ban Quý - Đinh Ngọc Vỹ - 20:13, 14/09/2026

(DTTG) - Ở Tây Nguyên, giữ rừng chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của lực lượng kiểm lâm hay những đơn vị được giao quản lý rừng. Trong những buôn làng, vẫn có những già làng, Người có uy tín, hộ gia đình và cộng đồng ngày ngày lặng lẽ đi qua những cánh rừng, phát hiện cây đổ, ngăn người xâm hại rừng, nhắc nhau giữ nguồn nước, giữ đất và giữ không gian sống. Họ chính là những người đang nối dài mối quan hệ truyền thống giữa con người với đại ngàn bằng một trách nhiệm rất cụ thể, đó là giữ rừng cũng là giữ tương lai của buôn làng.

Những cơn mưa đầu mùa phủ xuống các cánh rừng phía Nam Tây Nguyên sau nhiều tháng khô, hanh. Rừng Bidoup - Núi Bà dần trở lại màu xanh thẫm, nước từ các khe suối bắt đầu chảy mạnh hơn, hơi lạnh từ núi cao len qua những tán rừng già phủ đầy rêu ẩm
Những cơn mưa đầu mùa phủ xuống các cánh rừng phía Nam Tây Nguyên sau nhiều tháng khô, hanh. Rừng Bidoup - Núi Bà dần trở lại màu xanh thẫm, nước từ các khe suối bắt đầu chảy mạnh hơn, hơi lạnh từ núi cao len qua những tán rừng già phủ đầy rêu ẩm

Có những công việc không ồn ào, ít khi xuất hiện trên những con đường lớn, nhưng lại có ý nghĩa đối với sự tồn tại của cả một vùng đất. Giữ rừng ở Tây Nguyên là một công việc như thế. Từ bao đời, rừng không chỉ cung cấp gỗ, lâm sản, thực phẩm và dược liệu cho cư dân địa phương mà còn là nơi khởi nguồn của những dòng nước, giữ đất bazan, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo nên không gian văn hóa của các buôn làng. Nhiều nghiên cứu về xã hội truyền thống Tây Nguyên chỉ ra rằng: Rừng và làng có mối quan hệ hữu cơ; hệ giá trị văn hóa của nhiều tộc người được hình thành, trao truyền trong chính không gian rừng và thiết chế làng.

Bởi vậy, người giữ rừng trước hết là người giữ không gian sống.

Giữ rừng từ một tình yêu có nguồn cội

Với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, rừng từng được nhìn nhận không chỉ bằng giá trị kinh tế, đồng thời còn bằng chiều sâu tinh thần. Rừng gắn với nguồn nước, với đất sản xuất, với không gian cư trú và những quan niệm thiêng liêng về thế giới tự nhiên.

Từ nền tảng ấy, những quy ước cộng đồng về ranh giới rừng, đất rừng và cách khai thác tài nguyên đã hình thành từ rất sớm. Các tư liệu nghiên cứu về rừng và đất rừng Tây Nguyên cho thấy trong xã hội truyền thống, nhiều buôn làng có quy ước về ranh giới rừng và cộng đồng cùng tham gia bảo vệ những không gian ấy.

Điều đặc biệt là cơ chế bảo vệ rừng truyền thống không chỉ dựa vào sự cưỡng chế. Và nó dựa vào ý thức cộng đồng và trách nhiệm của mỗi thành viên đối với không gian chung.

Trong thiết chế làng truyền thống, già làng và những người có uy tín giữ vai trò quan trọng trong điều hành đời sống cộng đồng. Luật tục từng là một cơ chế điều chỉnh hành vi, trong đó có những chuẩn mực liên quan đến đất đai, rừng và quan hệ giữa con người với tự nhiên. Những giá trị tích cực của luật tục đến nay vẫn có thể được phát huy trong quản lý cộng đồng, nếu được vận dụng phù hợp với pháp luật hiện hành.

Vì vậy, người giữ rừng không chỉ là một khái niệm nghề nghiệp. Đặc biệt, đó còn là một vai trò văn hóa - xã hội.

Người giữ rừng chính là người biến nhận thức “rừng là của chung” thành hành động cụ thể, đó là đi tuần tra, phát hiện nguy cơ cháy rừng, ngăn chặn khai thác trái phép, vận động bà con không lấn chiếm đất rừng và nhắc thế hệ trẻ về giá trị của đại ngàn.

Nhiều khu vực rừng sâu hiện vẫn chưa thể tiếp cận bằng phương tiện cơ giới. Muốn kiểm tra hiện trạng rừng hay xác minh dấu hiệu xâm hại, lực lượng kiểm lâm vẫn phải đi bộ xuyên rừng
Nhiều khu vực rừng sâu hiện vẫn chưa thể tiếp cận bằng phương tiện cơ giới. Muốn kiểm tra hiện trạng rừng hay xác minh dấu hiệu xâm hại, lực lượng kiểm lâm vẫn phải đi bộ xuyên rừng

Từ giữ rừng đến giữ sinh kế

Nếu trước đây người dân bảo vệ rừng chủ yếu bằng kinh nghiệm và luật tục thì ngày nay, nhiệm vụ ấy đang đứng trước một yêu cầu mới, như: bảo vệ rừng phải đồng thời bảo đảm sinh kế cho người sống gần rừng.

Có thể nói, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Bởi nếu người dân chỉ được yêu cầu giữ rừng nhưng không có điều kiện cải thiện cuộc sống, mối quan hệ giữa bảo tồn và sinh kế rất dễ nảy sinh mâu thuẫn. Và ngược lại, khi người dân được trao quyền, được hưởng lợi hợp pháp từ rừng và có sinh kế ổn định, họ sẽ có thêm động lực để trở thành chủ thể bảo vệ rừng.

Thực tế tại nhiều địa phương Tây Nguyên cho thấy, hướng tiếp cận này đang ngày càng được quan tâm, chú trọng. Các dự án phát triển nông - lâm nghiệp bền vững đang gắn nhiệm vụ bảo vệ rừng với tạo việc làm, nâng thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng không chỉ góp phần hạn chế hành vi xâm hại rừng mà còn thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng.

Đây là một chuyển biến quan trọng trong tư duy quản trị rừng. Người dân không chỉ là lực lượng được thuê để bảo vệ rừng, mà cần từng bước trở thành chủ thể có quyền lợi và trách nhiệm đối với rừng.

Khi thu nhập từ bảo vệ rừng được kết hợp với phát triển nông - lâm nghiệp, lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng hay các mô hình sinh kế dưới tán rừng, cánh rừng sẽ không còn đứng ngoài đời sống kinh tế của buôn làng. Ngược lại, rừng trở thành một phần của nền kinh tế xanh, trong đó giá trị môi trường và giá trị văn hóa được tính đến cùng với giá trị kinh tế.

Ở nhiều khu vực rừng sâu của Nam Tây Nguyên, công nghệ vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn con người
Tuần tra, bảo vệ rừng ở khu vực Nam Tây Nguyên

Người có uy tín, cầu nối giữa rừng và cộng đồng

Trong câu chuyện giữ rừng ở Tây Nguyên, không thể bỏ qua vai trò của những Người có uy tín… Đó có thể là già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ, nghệ nhân, chức sắc hoặc những người được cộng đồng tin tưởng. Sức mạnh của họ không chỉ nằm ở chức danh mà nằm ở niềm tin xã hội.

Theo đó, một lời vận động của Người có uy tín, nếu xuất phát từ lợi ích thiết thực của cộng đồng và được nói bằng ngôn ngữ gần gũi, đôi khi có sức thuyết phục rất lớn. Đặc biệt tại những địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi việc tiếp cận thông tin chính sách còn có những hạn chế, Người có uy tín có thể trở thành cầu nối đưa chủ trương, pháp luật đến với người dân. Vai trò này đã được các địa phương Tây Nguyên chú trọng trong công tác dân tộc và vận động đồng bào.

Trong bảo vệ rừng, cầu nối ấy càng có ý nghĩa. Người có uy tín có thể giúp giải thích cho cộng đồng rằng bảo vệ rừng không chỉ là thực hiện một quy định của Nhà nước. Đó còn là bảo vệ nguồn nước cho con cháu, bảo vệ đất sản xuất, bảo vệ môi trường sống và giữ lại không gian văn hóa của buôn làng.

Khi luật pháp hiện đại gặp tri thức địa phương, khi quy định của Nhà nước được cộng đồng tiếp nhận thông qua những người mà họ tin cậy, công tác bảo vệ rừng sẽ có thêm một nền tảng xã hội quan trọng.

Già làng, Người có uy tín góp sức để buôn làng Tây Nguyên vững như núi, xanh như rừng
Già làng, Người có uy tín tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc biên giới

Giữ rừng để giữ văn hóa

Một cánh rừng mất đi không chỉ làm mất cây. Đặc biệt, đằng sau sự suy giảm của rừng có thể là sự suy giảm nguồn nước, sinh kế, đa dạng sinh học và cả những thực hành văn hóa vốn gắn với không gian tự nhiên. Nghiên cứu về Tây Nguyên từng chỉ ra mối liên hệ giữa suy giảm tài nguyên rừng và sự suy giảm một số giá trị văn hóa truyền thống.

Đó là lý do bảo vệ rừng cần được nhìn nhận rộng hơn phạm vi của ngành lâm nghiệp.

Rừng là một phần của di sản sống.

Không gian rừng, bến nước, nương rẫy, buôn làng, nhà dài, lễ hội và các thực hành tín ngưỡng trong nhiều cộng đồng Tây Nguyên tạo nên một chỉnh thể văn hóa. Khi môi trường sống bị biến đổi, nhiều giá trị văn hóa cũng đứng trước nguy cơ biến đổi theo.

Vì vậy, việc giữ rừng đồng thời là giữ ký ức cộng đồng. Một thế hệ trẻ biết quý trọng cánh rừng quê mình sẽ không chỉ hiểu giá trị của một nguồn tài nguyên, mà còn hiểu mình đang kế thừa một phần căn tính văn hóa của cộng đồng.

Để người giữ rừng không đơn độc

Thách thức đối với rừng Tây Nguyên vẫn còn lớn. Áp lực sinh kế, biến đổi khí hậu, suy giảm chất lượng rừng, nguy cơ lấn chiếm đất rừng và khai thác tài nguyên trái pháp luật vẫn đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản lý. Các chuyên gia và cơ quan quản lý nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu gắn bảo vệ, phục hồi rừng với ổn định đời sống và sinh kế của người dân sống gần rừng.

Trong bối cảnh đó, không thể đặt toàn bộ gánh nặng lên vai những người đang ngày ngày tuần tra rừng.

Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao rừng, khoán bảo vệ rừng và chia sẻ lợi ích từ rừng; nâng cao hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; hỗ trợ sinh kế phù hợp cho cộng đồng; đồng thời phát huy vai trò của già làng, Người có uy tín và các tổ chức cộng đồng trong quản lý tài nguyên.

Điều quan trọng hơn, cần thay đổi cách nhìn: người dân sống gần rừng không phải là đối tượng cần vận động để bảo vệ rừng, mà là một phần của hệ thống chủ thể bảo vệ rừng.

Khi người dân có quyền lợi gắn với rừng, khi tri thức bản địa được tôn trọng, khi luật tục tích cực được kết nối với pháp luật và khi sinh kế được bảo đảm, trách nhiệm giữ rừng sẽ không còn là công việc của một lực lượng đơn lẻ.

Và nó trở thành trách nhiệm của cả cộng đồng.

Giữa đại ngàn Tây Nguyên, những người giữ rừng có thể không có những công cụ hiện đại nhất, cũng không đứng ở những vị trí dễ được nhìn thấy nhất. Nhưng mỗi chuyến tuần tra, mỗi lời vận động, mỗi khoảnh rừng được giữ lại đều góp phần bảo vệ một hệ sinh thái và một không gian văn hóa. Họ đang giữ cây rừng cho hôm nay, giữ nguồn nước cho ngày mai và giữ lại cho thế hệ sau một phần màu xanh của đại ngàn. Đặc biệt, giá trị lớn nhất của người giữ rừng không chỉ nằm ở số hecta rừng được bảo vệ, đồng thời còn ở việc họ giúp cộng đồng hiểu rằng, đó là muốn buôn làng phát triển lâu dài, trước hết phải biết giữ lấy cội nguồn của sự sống./.