Người Hrê ở Quảng Ngãi có truyền thống sử dụng chè xanh từ lâu đờiCây chè mở hướng thoát nghèo
Sau sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp, huyện Minh Long (cũ) tỉnh Quảng Ngãi được chia thành 2 xã Minh Long và Sơn Mai. Ở các xã này, đồng bào dân tộc Hrê chiếm số đông. Tuy nhiên số hộ nghèo và cận nghèo còn chiếm tỷ lệ cao. Chẳng hạn, tại xã Minh Long, tỷ lệ nghèo đa chiều (bao gồm tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ hộ cận nghèo) là 13,15%; trong đó hộ nghèo chiếm 10,15%, hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 3%. Tại xã Sơn Mai, toàn xã có 08 thôn thì 07 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số chiếm 73,72%. Hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 85,95%; hộ cận nghèo dân tộc thiểu số chiếm tới 88,73% tổng số hộ.
Để giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước, cần bắt đầu từ những thế mạnh của chính đồng bào, của địa phương. Với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp, từ lâu, người Hrê ở các xã trên đều ít nhiều trồng chè. Chè được trồng trên vùng đất sườn đồi, chủ yếu là giống bản địa, có tuổi đời từ 20 - 60 năm. Cây chè thích nghi, sinh trưởng và phát triển xanh tốt tự nhiên, hầu như không sử dụng phân, thuốc hoá học và cho thu hoạch lá quanh năm.
Già Đinh Bá Linh, xã Sơn Mai chia sẻ, từ nhỏ, ông đã thấy mẹ và bà con hái chè mang đi bán, trao đổi lấy những vật dụng cần thiết. Ngày xưa, nhờ trao đổi chè, người Hrê có muối, có mắm, có xoong, nồi, chiêng, ché và nhiều thứ vật dụng quý khác. Ngày nay, nhờ chè mà bà con có ti vi, xe máy, điện thoại thông minh…
Chè là thức uống truyền thống được yêu thích của người Việt Nam (Ảnh: Phương Liên)Với sự định hướng, giúp đỡ của các ngành chức năng, chè xanh Minh Long đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh Quảng Ngãi công nhận là sản phẩm đặc trưng của địa phương. Từ tháng 11/2018, Co.opmart Quảng Ngãi đã duyệt, cấp mã số chính thức nhập hàng vào siêu thị, mở ra cơ hội phát triển tiềm năng vùng chè sạch của người Hrê.
Hợp tác xã Nông nghiệp Long Hiệp là đơn vị tiên phong trong việc xây dựng nhãn hiệu hàng hoá nhằm quyết tâm đưa chè Minh Long vào tiêu thụ trong các siêu thị. Từ 2017, Hợp tác xã tiến hành thu mua 1 tấn chè/ngày, sơ chế đúng quy trình kỹ thuật, đóng gói, bảo quản.
Từ khi có hợp tác xã bao tiêu sản phẩm, đồng bào dân tộc Hrê rất phấn khởi. Giá hợp tác xã thu mua chè tươi cho bà con cao gấp đôi so với bán cho tư thương. Mỗi ngày, mỗi hộ trồng chè có thể thu nhập vài trăm nghìn đồng từ việc thu hoạch lá. Với những hộ trồng quy mô lớn, bình quân thu nhập từ 6-8 triệu đồng/tháng. Quan trọng là cây chè có thể cho thu nhập bằng ½ cây keo, tức khoảng 30-40 triệu đồng/năm, nhưng việc thu hoạch diễn ra hàng năm, trong khi cây keo phải mất 4-5 năm mới cho thu hoạch.
Người Dao đỏ chế biến chè theo phương thức truyền thống tại HTX trà Shan di sản Hồ Thầu, tỉnh Tuyên QuangLiên kết chuỗi giá trị để nâng tầm ngành chè
Ở Việt Nam, người Hrê không phải là tộc người duy nhất mà nhiều tộc người Mông, Dao, Tày… cũng có sinh kế liên quan mật thiết với cây chè. Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, năm 2025, tổng diện tích toàn ngành đạt 128 ngàn ha, doanh thu nội tiêu đạt 15.000 tỷ đồng, tương đương 577 triệu USD; xuất khẩu đạt trên 238 triệu USD. Diện tích chè của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, được nhiều địa phương xác định là cây trồng mũi nhọn để phát triển kinh tế - xã hội.
Chẳng hạn tỉnh Thái Nguyên hiện có hơn 24 nghìn ha chè, sản lượng mỗi năm khoảng 280 nghìn tấn, chiếm trên 18% diện tích và hơn 24% sản lượng chè búp tươi cả nước; năm 2025, tổng doanh thu khoảng hơn 14 nghìn tỷ đồng. Tỉnh Lào Cai có diện tích chè trên 16 nghìn ha, riêng giá trị sản xuất chè búp tươi đạt gần 1.000 tỷ đồng. Tỉnh Tuyên Quang có diện tích chè lớn nhất cả nước với 27.500 ha, trong đó hơn 19.000 ha là chè Shan tuyết. Những dòng trà đặc sản như chè xanh, hồng trà, bạch trà, trà Phổ Nhĩ… đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Thu hái chè ở Bảo Lộc, Lâm ĐồngVới những giá trị đó, chè là một trong các loại cây trồng được các địa phương đưa vào trong quá trình thực hiện Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong Dự án 3 Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719), với các hoạt động như hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất,chế biến, kinh doanh, hợp tác xã tham gia vào chuỗi giá trị, các dự án phát triển sản xuất cộng đồng...
Giai đoạn 2026-2030, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417), tiếp tục triển khai Nội dung thành phần số 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Hợp phần 2 - Các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Thông tư 02/2026/TT-BDTTG của Bộ Dân tộc và Tôn giáo hướng dẫn thực hiện Hợp phần 2, người dân, hộ, nhóm hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế - xã hội có hoạt động sản xuất, thu mua, tiêu thụ, sử dụng lao động hoặc hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ tổ chức các diễn đàn, hội nghị, chương trình giao lưu, đối thoại nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, định hướng tư duy sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực phát triển kinh tế. Hỗ trợ tiếp cận đối với nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, thông tin thị trường, góp phần mở rộng cơ hội liên kết, hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; Hỗ trợ ươm tạo mô hình khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp gắn với sản phẩm, ngành nghề, lợi thế địa phương; Hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá, tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại, xúc tiến tiêu thụ sản phẩm từ các mô hình khởi nghiệp...
Các chính sách hỗ trợ đó trong Chương trình MTQG 417 là cơ hội tốt để cây chè đóng góp hiệu quả hơn nữa vào phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và sinh kế của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Để triển khai chính sách, trước hết, các tỉnh cần rà soát vùng chè theo điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nước và khả năng tiêu thụ, xác định rõ vùng sản xuất tập trung, vùng chè đặc sản và vùng cần bảo tồn. Với chè bản địa, chè cổ thụ, cần gìn giữ nguồn gen, bình tuyển cây đầu dòng, cải thiện kỹ thuật chăm sóc và thu hái. Với những diện tích chè công nghiệp già cỗi, năng suất thấp, có thể cải tạo hoặc trồng thay thế bằng giống phù hợp.
Đi cùng với đó là chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết giữa hộ dân, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp. Tập quán canh tác ít sử dụng hóa chất là lợi thế, nhưng muốn tiếp cận thị trường có yêu cầu cao, lợi thế ấy phải được chứng minh bằng quy trình, hồ sơ và kết quả kiểm nghiệm. Các địa phương cần hướng dẫn sản xuất theo tiêu chuẩn phù hợp với từng phân khúc, sử dụng phân bón hữu cơ, quản lý dịch hại, tưới tiết kiệm và bảo vệ đất; từng bước xây dựng mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất, hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Ở nơi có điều kiện, có thể phát triển du lịch trải nghiệm vùng chè và văn hóa cộng đồng Khâu chế biến có thể nâng đáng kể giá trị của cây chè. Tùy nguyên liệu và nhu cầu khách hàng, các hợp tác xã, doanh nghiệp cần đầu tư thiết bị sơ chế, bảo quản, đổi mới dây chuyền và phát triển sản phẩm như chè xanh chất lượng cao, hồng trà, trà túi lọc hoặc đồ uống từ chè. Đồng thời, giữ gìn những phương pháp chế biến thủ công tạo nên hương vị riêng của chè đặc sản. Hỗ trợ các chủ thể hoàn thiện bao bì, bảo hộ nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý khi đủ điều kiện, phát triển sản phẩm OCOP và kết nối với hệ thống phân phối. Ở nơi có điều kiện, có thể phát triển du lịch trải nghiệm vùng chè, thưởng trà, tìm hiểu nghề chế biến và văn hóa cộng đồng…
Những đồi chè Shan tuyết cổ thụ quanh năm mây phủ làm nên danh tiếng chè Suối Giàng, tỉnh Lào Cai (Ảnh: Phương Liên)Bên cạnh đó, các tỉnh có thể sử dụng nguồn lực của Chương trình MTQG 417 để làm đường vào vùng nguyên liệu, điện phục vụ chế biến, chuyển giao kỹ thuật, chứng nhận chất lượng và năng lực hợp tác xã… Vốn doanh nghiệp, tín dụng và sự tham gia của người dân cần được kết nối trên cơ sở phương án sản xuất khả thi.
Cây chè có thể trở thành nền tảng sinh kế lâu dài ở nhiều tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nếu phát huy tốt nguồn lực của Chương trình MTQG 417. Đó cũng là cách gìn giữ giống cây quý, nghề truyền thống và cảnh quan miền núi bằng chính giá trị kinh tế mà chè mang lại với mỗi hộ dân, mỗi địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.