Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Giữ mạch nguồn bản sắc, mở rộng không gian sáng tạo văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số

Nguyễn Duy Dũng - 10:58, 13/10/2026

(DTTG) - Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số không chỉ lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng, mà còn phản ánh những chuyển động của đời sống và góp phần hình thành diện mạo tinh thần của đất nước trong thời kỳ mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam diễn ra tại Hà Nội ngày 6/10/2026 vừa qua, với hơn 470 đại biểu tham dự đã đặt ra một yêu cầu có ý nghĩa lâu dài, đó là giữ cho mạch nguồn bản sắc không bị đứt gãy, đồng thời mở rộng không gian để văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo, đưa tiếng nói, tâm hồn và những giá trị riêng của các dân tộc thiểu số hòa vào dòng chảy chung của văn hóa Việt Nam.

Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội
Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội

Tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031 có các ông: Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; PGS.TS, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Trần Thị Phương Lan, Vụ trưởng Vụ Văn hóa văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương; cùng đại diện các cơ quan Trung ương; Lãnh đạo các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành trung ương cùng 475 đại biểu, đại diện cho hơn 1.000 hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Mỗi bài thơ, truyện ngắn, ca khúc, bức ảnh, tác phẩm mỹ thuật, điệu múa hay công trình nghiên cứu văn hóa không đơn giản là một sản phẩm sáng tạo, đồng thời còn có thể là nơi lưu giữ tiếng nói, ký ức, phong tục, lối sống, quan niệm thẩm mỹ và cách cộng đồng nhìn nhận về quê hương, con người. Vì vậy, bảo tồn văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số không đồng nghĩa với việc giữ nguyên những gì đã có; sâu xa hơn là bảo vệ khả năng tiếp tục sáng tạo của văn hóa trong điều kiện xã hội luôn vận động.

Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực to lớn của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đặt yêu cầu xử lý hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, truyền thống và hiện đại, đời sống thực và không gian số. Đối với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, những định hướng ấy càng có ý nghĩa, bởi bản sắc chỉ có thể sống khi được trao truyền, được sáng tạo và được tiếp nhận trong đời sống đương đại.

Toàn cảnh Đại hội
Toàn cảnh Đại hội

Nhìn lại nhiệm kỳ 2019-2024, những kết quả Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đạt được cho thấy sức sống đáng ghi nhận của đội ngũ văn nghệ sĩ. Trong nhiệm kỳ, Hội tổ chức hơn 30 trại sáng tác với hơn 630 lượt hội viên tham dự; tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác tại nhiều địa phương; hoạt động sáng tác đạt gần 500 giải thưởng ở các cấp. Đây không chỉ là những con số phản ánh khối lượng hoạt động, đồng thời còn cho thấy khi văn nghệ sĩ được trở về với cơ sở, tiếp xúc trực tiếp với đời sống và cộng đồng, nguồn chất liệu sáng tác được mở rộng, những câu chuyện về con người và sự đổi thay của các vùng dân tộc thiểu số có thêm cơ hội bước vào tác phẩm.

Đồng chí Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu chỉ đạo Đại hội
Ông Trần Thắng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu chỉ đạo Đại hội

Do vậy, giá trị của những chuyến đi thực tế, không nằm ở số lần tổ chức. Điều quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa đời sống thành sáng tạo nghệ thuật. Một bản làng thay đổi sau khi có đường giao thông; một người trẻ trở về quê khởi nghiệp; một nghệ nhân kiên trì truyền dạy nghề truyền thống; một lễ hội được phục dựng; một ngôn ngữ dân tộc đứng trước nguy cơ mai một; hay những biến chuyển trong quan hệ gia đình, cộng đồng trước tác động của đô thị hóa và công nghệ đều có thể trở thành chất liệu để văn học nghệ thuật nhận diện những vấn đề lớn của thời đại từ một góc nhìn gần gũi, giàu bản sắc.

Các đại biểu tham dự Đại hội
Các đại biểu tham dự Đại hội

Chính ở điểm này, yêu cầu gìn giữ bản sắc cần được hiểu rộng hơn việc tái hiện phong tục, trang phục hay lễ hội. Bản sắc còn nằm trong cách nghĩ, cách cảm, tiếng nói, ký ức và hệ giá trị của cộng đồng. Một tác phẩm thật sự có sức sống không chỉ kể về một dân tộc, mà phải giúp công chúng hiểu được con người của dân tộc ấy đang sống, đang lựa chọn và đang thay đổi như thế nào.

Bởi vậy, khuyến khích sáng tác bằng tiếng dân tộc có ý nghĩa đặc biệt. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện biểu đạt; trong nhiều trường hợp, đó là kho lưu giữ ký ức và thế giới quan của cộng đồng. Khi văn nghệ sĩ sáng tác bằng tiếng dân tộc và đồng thời có khả năng chuyển tải tác phẩm tới công chúng rộng hơn thông qua song ngữ, xuất bản và nền tảng số, tiếng nói dân tộc có thêm không gian hiện diện trong đời sống văn hóa hiện đại. Đây là hướng đi vừa bảo tồn, vừa phát triển, vừa mở rộng khả năng tiếp nhận.

Thực tế, sự quan tâm đến sáng tác về dân tộc thiểu số đang tạo ra những tín hiệu tích cực. Cuộc thi sáng tác ca khúc về đề tài dân tộc thiểu số năm 2024 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đã thu hút 176 tác giả với 275 ca khúc, cho thấy chất liệu văn hóa các dân tộc vẫn có sức hấp dẫn đối với hoạt động sáng tạo đương đại.

Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Phú Văn Hẳn thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày báo cáo tại Đại hội
Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Phú Văn Hẳn thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày báo cáo tại Đại hội

Tuy nhiên, phía sau những kết quả ấy vẫn là những khoảng trống cần được nhìn thẳng, tiếp thu, như: Đội ngũ văn nghệ sĩ giữa các vùng, miền chưa đồng đều; lực lượng trẻ ở một số chuyên ngành còn thiếu; hoạt động thực tế, sáng tác tại cơ sở chưa thường xuyên; số tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao và sức lan tỏa rộng chưa tương xứng tiềm năng. Đặc biệt, sáng tác bằng tiếng dân tộc còn hạn chế, trong khi việc ứng dụng công nghệ, đổi mới xuất bản, triển lãm và quảng bá tác phẩm chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiếp nhận văn hóa.

Đây không chỉ là vấn đề riêng của một hội nghề nghiệp. Đó là câu hỏi về khả năng truyền tiếp văn hóa giữa các thế hệ. Một nền văn hóa muốn bền vững không thể chỉ trông chờ vào những người đã có tên tuổi. Cần tạo được một dòng chảy liên tục từ nghệ nhân, nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ trưởng thành đến những cây bút trẻ, những người đang sống trực tiếp trong cộng đồng. Người trẻ không chỉ là đối tượng được truyền dạy; họ phải trở thành chủ thể tiếp nhận, diễn giải và sáng tạo lại những giá trị văn hóa bằng ngôn ngữ của thế hệ mình.

Vì vậy, định hướng của Hội trong nhiệm kỳ 2026-2031 về tăng cường đi thực tế, bồi dưỡng lực lượng trẻ, khuyến khích sáng tác bằng tiếng dân tộc, đẩy mạnh nghiên cứu, sưu tầm và ứng dụng công nghệ là những nhiệm vụ có tính nền tảng. Đại hội VII đã bầu Ban Chấp hành khóa VII gồm 18 thành viên; Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mã Thế Anh, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, được bầu làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2026-2031 và các Phó Chủ tịch Hội gồm Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Phú Văn Hăn, Họa sĩ Trần Thái, Nhà văn Niê Thanh Mai. Hội xác định tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026) và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, thành những chương trình hoạt động thiết thực, hướng mạnh về cơ sở và tạo chuyển biến trong đời sống văn học nghệ thuật.

Trong bối cảnh không gian số ngày càng trở thành nơi công chúng tiếp cận văn hóa, đổi mới phương thức quảng bá cũng không còn là lựa chọn phụ trợ. Một tác phẩm hay nhưng chỉ nằm trong phạm vi phát hành hẹp sẽ khó tạo sức lan tỏa tương xứng. Ngược lại, số hóa tư liệu, xây dựng thư viện điện tử, giới thiệu tác phẩm trên nền tảng số, triển lãm trực tuyến, sản xuất nội dung đa phương tiện và kết nối với các nhà sáng tạo trẻ có thể đưa văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.

Nhưng công nghệ chỉ là phương tiện. Cốt lõi vẫn là chất lượng sáng tạo. Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số cần tránh cả hai xu hướng: đóng khung bản sắc trong những hình ảnh quen thuộc hoặc chạy theo thị hiếu mà làm mờ đặc trưng văn hóa. Bản sắc phải trở thành chiều sâu của tác phẩm chứ không chỉ là lớp trang trí bên ngoài.

Ban Chấp hành khóa VII (nhiệm kỳ 2026-2031) ra mắt Đại hội
Ban Chấp hành khóa VII (nhiệm kỳ 2026-2031) ra mắt Đại hội

Từ góc nhìn đó, gìn giữ bản sắc và khơi nguồn sáng tạo không phải hai nhiệm vụ tách biệt. Gìn giữ tạo nền tảng cho sáng tạo; sáng tạo lại làm cho bản sắc tiếp tục sống trong những hình thức mới. Khi một câu chuyện cổ được kể lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại, một làn điệu dân gian được tìm tòi trong âm nhạc mới, một ký ức cộng đồng được chuyển hóa thành tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh hay văn học, giá trị truyền thống không mất đi mà có thêm đời sống mới.

Nghệ sĩ, Nhiếp ảnh Mã Thế Anh - Tân Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam phát biểu nhận nhiệm vụ
Nghệ sĩ, Nhiếp ảnh Mã Thế Anh - Tân Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam phát biểu nhận nhiệm vụ

Đó chính là ý nghĩa sâu sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay. Việc giữ bản sắc không phải để đứng yên trước thời gian, mà để có điểm tựa sáng tạo trong thời gian. Đưa văn hóa truyền thống vào tác phẩm mới không phải làm phai nhạt truyền thống, mà là tạo điều kiện để truyền thống tiếp tục được nhận biết, đối thoại và trao truyền.

Tiến sĩ Lò Giàng Páo, nguyên Uỷ viên Thường vụ Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VI và đại biểu tham dự Đại hội chúc mừng Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Phú Văn Hẳn - tân Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VII (nhiệm kỳ 2026-2031)
Tiến sĩ Lò Giàng Páo, nguyên Uỷ viên Thường vụ Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VI và đại biểu tham dự Đại hội chúc mừng Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Phú Văn Hẳn - tân Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VII (nhiệm kỳ 2026-2031)

Khi văn nghệ sĩ đi sâu vào đời sống, khi người trẻ có cơ hội cầm bút, cầm máy ảnh, cây đàn hay bảng màu để kể câu chuyện của chính cộng đồng mình; khi tiếng dân tộc có thêm không gian trong xuất bản và môi trường số; khi tác phẩm có chất lượng được đưa đến đông đảo công chúng, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số sẽ không chỉ làm nhiệm vụ lưu giữ ký ức. Đặc biệt, đây sẽ trở thành một nguồn lực sáng tạo, góp phần làm giàu đời sống tinh thần, củng cố sự gắn kết cộng đồng và khẳng định vẻ đẹp của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Tiến sĩ Lò Giàng Páo, nguyên Uỷ viên Thường vụ Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VI chụp ảnh lưu niệm với đại biểu tham dự Đại hội
Tiến sĩ Lò Giàng Páo, nguyên Uỷ viên Thường vụ Hội Văn học nghệ các DTTS VN khoá VI chụp ảnh lưu niệm với đại biểu tham dự Đại hội

Theo đó, giữ được mạch nguồn của quá khứ và mở được không gian sáng tạo cho hiện tại chính là cách chuẩn bị sức sống cho văn hóa của tương lai./.