Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm bình quân 3-4%/năm. (Trong ảnh: Một góc xã Đoàn kết, tỉnh Lạng Sơn). Ảnh: D.DViệt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc, gồm 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% dân số của cả nước), với đời sống văn hóa phong phú, phân bố trên địa bàn rộng, địa hình đa dạng, nhiều khu vực miền núi, biên giới còn khó khăn về hạ tầng và điều kiện tiếp cận dịch vụ. Những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nỗ lực vươn lên của đồng bào, diện mạo nông thôn miền núi từng bước đổi thay; sinh kế được đa dạng hóa, hạ tầng thiết yếu được cải thiện, bản sắc văn hóa tiếp tục được gìn giữ. Tuy nhiên, khoảng cách về thu nhập, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ số vẫn là những thách thức cần giải quyết bằng các chính sách đồng bộ, lâu dài.
Trong bối cảnh ấy, theo báo cáo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026), cả nước hiện có 29.626 Người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Họ là những già làng, trưởng dòng họ, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo, người sản xuất giỏi, cán bộ nghỉ hưu và những cá nhân tiêu biểu được cộng đồng tín nhiệm. Uy tín của họ không hình thành chủ yếu từ chức danh hành chính, mà từ sự gương mẫu, am hiểu phong tục, khả năng tập hợp quần chúng và những đóng góp thiết thực cho bản làng. Bởi vậy, Người có uy tín là cầu nối đặc biệt giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân; góp phần giải thích chính sách bằng ngôn ngữ gần gũi, tháo gỡ những băn khoăn từ cơ sở, vận động đồng bào chấp hành pháp luật, phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa và bảo đảm an ninh, trật tự.
Vì vậy, việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin cho lực lượng này mang ý nghĩa vượt ra ngoài việc trang bị thiết bị. Đó là đầu tư vào năng lực kết nối, khả năng tiếp nhận và kiểm chứng thông tin, đồng thời mở rộng phương thức truyền tải tri thức đến từng cộng đồng. Khi được hướng dẫn sử dụng nền tảng số, Người có uy tín có thể cập nhật kịp thời chính sách hỗ trợ sản xuất, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và bảo tồn văn hóa; từ đó giúp người dân hiểu đúng quyền lợi, nghĩa vụ và chủ động tham gia các chương trình phát triển. Công nghệ cũng tạo điều kiện để phản ánh kiến nghị của nhân dân nhanh hơn, góp phần nâng cao chất lượng đối thoại và hiệu quả quản trị ở cơ sở.
Theo đó, định hướng này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Về chính sách trực tiếp, Nghị định số 307/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 04/08/2026 và có hiệu lực từ ngày 20/09/2026, quy định việc lựa chọn, công nhận và thực hiện chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nghị định cũng đặt cơ sở cho việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, vận động và khai thác, xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội. Đây là căn cứ quan trọng để các địa phương đổi mới công tác hỗ trợ theo hướng thiết thực, thường xuyên và phù hợp với điều kiện của từng người.
Cơ sở hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đầu tư xây dựng khang trang, kiên cố (Ảnh: D.D)Nếu như trước đây, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn liền với Chương trình 135 - một thương hiệu quốc gia trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thì Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 ( gọi tắt là Chương trình MTQG 1719) đã trở thành điểm tựa, nơi gửi gắm kỳ vọng phát triển của khoảng 14,1 triệu đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước… Không chỉ kế thừa, Chương trình MTQG 1719 đã tạo dấu ấn mạnh mẽ, đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển bền vững của những địa bàn vốn được coi là trọng yếu cả về an ninh, quốc phòng và văn hóa, xã hội…
Thực tiễn kết quả triển khai Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 cho thấy, phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn vốn đầu tư mà cần sự tham gia chủ động của cộng đồng và xã hội, doanh nghiệp. Chương trình đã triển khai 403 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, với sự tham gia của 817 doanh nghiệp, hợp tác xã; các mô hình sản xuất thu hút hơn 36.000 hộ dân. Đến năm 2024, thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm bình quân khoảng 3,4% mỗi năm trong giai đoạn được tổng kết. Bên cạnh đầu tư hạ tầng, phát triển sinh kế và bảo tồn văn hóa, công tác tuyên truyền, vận động của Người có uy tín góp phần tạo đồng thuận, khuyến khích người dân tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách…
Những đóng góp của đội ngũ Người có uy tín trong vùng đồng bào bào dân tộc thiểu số đã và đang tạo ra những tác động tích cực, lan tỏa trong cộng đồng (Ảnh: D.D)Trong đó, có thể thấy, điển hình như tỉnh Cao Bằng, một trong những địa phương khó khăn nhất trong cả nước. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh được Trung ương giao nguồn vốn hơn 5.033 tỷ đồng để triển khai Chương trình. Theo báo cáo cảu Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cao Bằng, tính đến tháng 8/2025, tỉnh đã giải ngân hơn 3.800 tỷ đồng, đạt 75,6% kế hoạch. Nhờ đó, tỷ lệ giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số của Cao Bằng đạt trên 4,6%, một bước tiến quan trọng trong bức tranh phát triển kinh tế - xã hội.
Còn theo báo cáo của UBND tỉnh Sơn La, giai đoạn 2021-2025, tỉnh được phân bổ hơn 5.857 tỷ đồng thực hiện Chương trình MTQG 1719, đến cuối năm 2025 giải ngân hơn 4.950 tỷ đồng, đạt 84,5%. Tổng số vốn ngân sách trung ương năm 2025 chuyển nguồn sang năm 2026 trên 651 tỷ đồng. Tính đến ngày 20/6/2026, đã làm thủ tục và giải ngân thanh toán được tổng số tiền trên 137 tỷ đồng, đạt 21,1% tổng kế hoạch và là một trong những địa phương có tỷ lệ giải ngân cao nhất cả nước. Nhờ sự vào cuộc đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn giảm 4,47%. Các chỉ tiêu về y tế, giáo dục, hạ tầng và dịch vụ công đều có chuyển biến tích cực.
Tại tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2021-2025, tỉnh được phân bổ hơn 4.712 tỷ đồng thực hiện Chương trình MTQG 1719. Đến hết năm 2025, tỉnh đã giải ngân hơn 4.689 tỷ đồng, đạt 99,5% kế hoạch. Năm 2026, địa phương tiếp tục đề xuất kéo dài thực hiện gần 293,6 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương; đến ngày 30/6 đã giải ngân hơn 83,5 tỷ đồng. Theo đó, nhiều kết quả nổi bật đã được ghi nhận như: Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt 5,4%/năm; 90% thôn có đường ô tô được cứng hóa; 98% đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bảo hiểm y tế; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 14,01%. Bình quân mỗi năm, tỉnh đào tạo nghề cho hơn 7.700 lao động và hỗ trợ nước sinh hoạt cho gần 30.000 hộ dân…
Người dân xã Đoàn kết (tỉnh Lạng Sơn) được Người có uy tín hướng dẫn sử dụng ứng dụng trên điện thoại (Ảnh: D.D)Bước vào giai đoạn 2026-2030, Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội và Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tạo khuôn khổ cho chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Để phát huy vai trò Người có uy tín trong giai đoạn này, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp: tổ chức tập huấn kỹ năng số phù hợp với độ tuổi, trình độ; cung cấp tài liệu chính sách ngắn gọn, dễ hiểu và có thể sử dụng bằng tiếng dân tộc khi cần thiết; hướng dẫn nhận diện tin giả, phòng tránh lừa đảo trực tuyến, bảo vệ dữ liệu cá nhân; thiết lập kênh phản ánh hai chiều giữa cộng đồng với chính quyền. Đồng thời, cần bảo đảm hạ tầng kết nối, kinh phí duy trì, hỗ trợ kỹ thuật và cơ chế ghi nhận những đóng góp thực chất của lực lượng này.
Việc đánh giá hiệu quả phải vượt ra ngoài số lượng thiết bị được cấp hay lớp tập huấn được tổ chức. Thước đo quan trọng hơn là người dân có tiếp cận thông tin chính xác, tham gia tốt hơn vào các mô hình sinh kế, hiểu và thực hiện chính sách hiệu quả hơn hay không; những kiến nghị từ cơ sở có được tiếp nhận, xử lý kịp thời hay không. Công nghệ cần bổ trợ chứ không thay thế đối thoại trực tiếp, sự gắn bó và niềm tin giữa Người có uy tín với cộng đồng.
Do vậy, để phát huy Người có uy tín trong kỷ nguyên số là kết hợp sức mạnh của lòng dân với sức mạnh của tri thức và công nghệ. Khi lực lượng này được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và điều kiện hoạt động, mỗi bản làng sẽ có thêm một hạt nhân lan tỏa thông tin chính thống, khơi dậy tinh thần tự lực và kết nối nguồn lực phát triển. Đó là nền tảng quan trọng để các chương trình mục tiêu quốc gia đi vào cuộc sống, thu hẹp khoảng cách phát triển và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới…/.