Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Khi bản sắc trở thành “chìa khóa vàng” cho sinh kế bền vững

Nguyễn Duy Dũng - Nông Thị Hạnh - 19:28, 18/05/2026

(DTTG) - Những năm gần đây, du lịch cộng đồng và mô hình homestay ở miền núi phía Bắc đang trở thành một hướng đi giàu tiềm năng, mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho nhiều địa phương vùng cao. Từ Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Tuyên Quang), đến Mai Châu (tỉnh Phú Thọ), Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) hay Pù Luông (tỉnh Thanh Hoá), ngày càng nhiều bản làng đổi thay nhờ biết khai thác thiên nhiên, bản sắc văn hóa truyền thống địa phương để làm du lịch.

Phát triển homestay ở vùng cao, miền núi hôm nay đòi hỏi tư duy làm du lịch chuyên nghiệp, bền vững và gắn chặt với văn hóa địa phương
Phát triển homestay ở miền núi hôm nay đòi hỏi tư duy làm du lịch chuyên nghiệp, bền vững và gắn chặt với văn hóa địa phương

Nhưng phía sau những ngôi nhà sàn đông khách, những homestay giữa biển mây hay bên ruộng bậc thang là cả một hành trình chuyển đổi tư duy của người dân vùng cao, miền núi. Đó không chỉ là câu chuyện “cho khách thuê phòng”, mà là hành trình biến bản sắc văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững.

Miền núi phía Bắc từ lâu vốn được thiên nhiên ưu đãi với cảnh quan hùng vĩ, khí hậu đặc sắc và hệ sinh thái văn hóa đa dạng của hàng chục dân tộc thiểu số, như: Mông, Dao, Thái, Tày, Nùng, Hà Nhì, Lô Lô, Khơ-mú,…

Chính sự hòa quyện giữa thiên nhiên và văn hóa đã tạo nên sức hút rất riêng cho du lịch vùng cao.

Theo số liệu của ngành du lịch, trong những tháng đầu năm 2026, các tỉnh miền núi phía Bắc đón hàng chục triệu lượt khách du lịch. Riêng tỉnh Lào Cai đón trên 4,5 triệu lượt khách du lịch (4 tháng đầu năm 2026); tỉnh Tuyên Quang đã đạt hơn 1,12 triệu lượt khách (quý I/2026), Sơn La đón gần 1,3 triệu lượt khách du lịch (trong 2 tháng đầu năm 2026),... Trong đó, loại hình du lịch cộng đồng, lưu trú homestay tăng trưởng mạnh, đặc biệt thu hút khách quốc tế và khách trẻ yêu thích trải nghiệm văn hóa địa phương.

Tại nhiều địa phương, homestay đã trở thành “đòn bẩy” giúp người dân vùng cao nâng cao thu nhập.

Khi du lịch cộng đồng phát triển, homestay dần trở thành “cánh cửa” mở ra cơ hội đổi thay cho nhiều bản làng
Khi du lịch cộng đồng phát triển, homestay dần trở thành “cánh cửa” mở ra cơ hội đổi thay cho nhiều bản làng

Ở bản Lác (phường Mai Châu, tỉnh Phú Thọ), nhiều hộ dân người Thái có thu nhập trung bình từ 300 triệu đến hơn 1 tỷ đồng/năm nhờ kết hợp lưu trú, ẩm thực, biểu diễn văn nghệ và bán sản phẩm thủ công truyền thống.

Tại Sa Pa (tỉnh Lào Cai), nhiều homestay ở Tả Van, Lao Chải hay Tả Phìn luôn kín khách vào mùa cao điểm. Có gia đình người Dao đỏ từ chỗ chỉ sống dựa vào nương rẫy, nay đã có nguồn thu ổn định nhờ làm du lịch cộng đồng.

Điều đáng nói là homestay không chỉ tạo sinh kế cho một hộ gia đình, mà còn kéo theo nhiều ngành nghề khác cùng phát triển như dệt thổ cẩm, nông sản sạch, hướng dẫn du lịch, vận tải hay biểu diễn văn hóa dân gian.

Nhưng để homestay thực sự phát triển hiệu quả và bền vững, điều quan trọng nhất không nằm ở việc xây nhà thật lớn hay đầu tư thật hiện đại, mà ở khả năng giữ được “linh hồn” văn hóa bản địa.

Tiến sĩ Phùng Quang Thiện, chuyên gia nghiên cứu về chính sách dân tộc (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho rằng: Lợi thế lớn nhất của homestay miền núi phía Bắc không phải là cơ sở vật chất, mà chính là bản sắc văn hóa và không gian thiên nhiên nguyên bản.

Du khách đến vùng cao hôm nay không chỉ tìm chỗ nghỉ chân. Họ muốn được trải nghiệm đời sống thực của người bản địa, được ngủ trong nhà sàn, ăn món ăn truyền thống, nghe tiếng khèn Mông, xem múa xòe Thái hay cùng người dân xuống ruộng, lên nương.

Ở bản Nặm Đăm (xã Quản Bạ, tỉnh Tuyên Quang), người Dao đỏ đã biết giữ nguyên kiến trúc nhà trình tường, sử dụng các vật liệu truyền thống như đất, gỗ, đá để làm homestay. Du khách đến đây không chỉ lưu trú mà còn được trải nghiệm tắm lá thuốc, học thêu thổ cẩm, thưởng thức ẩm thực bản địa.

Nhờ giữ được nét nguyên sơ và bản sắc văn hóa, Nặm Đăm từng được trao Giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN và trở thành điểm sáng của du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc.

Anh Triệu Mềnh Kinh (37 tuổi), chủ homestay Hoàng Su Phì bungalow (thôn Nậm Hồng, xã Thông Nguyên, tỉnh Tuyên Quang) chia sẻ: “Khách du lịch thích nhất là sự chân thật. Họ muốn cảm nhận cuộc sống vùng cao, miền núi chứ không muốn ở trong một khách sạn bê tông giữa núi rừng”.

Câu nói ấy phản ánh đúng xu hướng du lịch hiện nay, khi du khách ngày càng tìm kiếm trải nghiệm văn hóa và cảm xúc thay vì chỉ nghỉ dưỡng đơn thuần.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, không phải mô hình homestay nào ở miền núi phía Bắc cũng thành công. Có nơi đầu tư lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả vì làm du lịch theo phong trào, thiếu định hướng và thiếu kỹ năng chuyên nghiệp.

Một số homestay bê tông hóa quá mức, phá vỡ cảnh quan bản làng. Có nơi biến tấu văn hóa dân tộc thành các tiết mục biểu diễn gượng ép, làm mất đi sự chân thực vốn là yếu tố hấp dẫn nhất của du lịch cộng đồng.

Bởi vậy, phát triển homestay hiệu quả trước hết cần thay đổi tư duy làm du lịch. Người dân không thể chỉ coi homestay là “phòng cho thuê”, mà phải xem đó là một sản phẩm văn hóa, du lịch tổng thể. Điều đặc biệt, muốn giữ chân khách, homestay phải tạo được trải nghiệm khác biệt.

Ở Pù Luông (tỉnh Thanh Hóa), nhiều homestay xây dựng theo hướng sinh thái, sử dụng tre, gỗ, mái lá và giữ tối đa không gian xanh. Du khách ngày càng đánh giá cao những homestay thân thiện với môi trường và tôn trọng văn hóa bản địa. Bởi thế, phát triển homestay hiệu quả không chỉ là tăng lượng khách hay doanh thu, mà còn là giữ được sự hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và thiên nhiên.

Một yếu tố quan trọng khác là phát triển theo hướng cộng đồng cùng hưởng lợi.

Du lịch cộng đồng sẽ khó bền vững nếu chỉ một vài hộ giàu lên còn phần lớn người dân đứng ngoài cuộc. Nhiều mô hình thành công ở miền núi phía Bắc hiện nay đều dựa trên sự liên kết cộng đồng: nhà này làm homestay, nhà khác bán nông sản, người khác biểu diễn văn nghệ, dẫn tour hay làm nghề thủ công.

Khi cả cộng đồng cùng tham gia, người dân sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn môi trường, bảo tồn văn hóa và xây dựng hình ảnh du lịch địa phương. Đó cũng là cách để du lịch thực sự trở thành động lực giảm nghèo bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chiều xuống trên những bản làng vùng cao, khói bếp lại bay lên từ mái nhà sàn. Tiếng trẻ con nô đùa vang giữa thung lũng. Xa xa, tiếng khèn Mông hòa vào gió núi, bảng lảng trong làn sương chiều.

Trong không gian ấy, du khách không chỉ tìm thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn cảm nhận được chiều sâu văn hóa và sự chân thành của con người miền sơn cước. Đó chính là giá trị lớn nhất mà homestay vùng cao, miền núi mang lại.

Và cũng bởi thế, phát triển homestay ở miền núi phía Bắc hôm nay không đơn thuần là câu chuyện kinh tế, mà còn là hành trình giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ thiên nhiên và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, miền núi.

Khi người dân biết biến ngôi nhà của mình thành nơi kể câu chuyện văn hóa; khi bản làng vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ giữa dòng chảy hiện đại; khi du khách tìm thấy cảm giác bình yên và trải nghiệm chân thật, đó cũng là lúc homestay miền núi phía Bắc thực sự phát triển hiệu quả và bền vững.

Đó có thể là bữa cơm truyền thống bên bếp lửa, buổi sáng thức dậy giữa biển mây, hay cảm giác được nghe người già kể chuyện về phong tục tập quán dân tộc mình.

Nhiều homestay thành công hiện nay đều biết kể câu chuyện riêng của bản làng mình.

Ở Tà Xùa (tỉnh Sơn La), nhiều chủ homestay trẻ đã biết tận dụng mạng xã hội để quảng bá hình ảnh địa phương. Những video về săn mây, cuộc sống vùng cao, món ăn dân tộc hay phiên chợ bản thu hút hàng triệu lượt xem trên TikTok, Facebook.

Chính truyền thông số đang mở ra cơ hội rất lớn cho du lịch vùng cao, miền núi.

Một homestay đẹp nhưng không ai biết đến sẽ khó phát triển. Ngược lại, nhiều homestay nhỏ nhưng biết làm truyền thông lại luôn đông khách quanh năm.

Theo các chuyên gia du lịch tại một cuộc hội thảo gần đây cho biết: Kỹ năng quảng bá số đang trở thành yếu tố quan trọng đối với người làm homestay hiện nay. Người dân vùng cao không chỉ cần biết đón khách, mà còn cần biết chụp ảnh, quay video, xây dựng thương hiệu và tương tác với khách hàng trên nền tảng số.

Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ cũng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững.

Nhiều du khách sẵn sàng ở nhà sàn truyền thống, nhưng họ vẫn cần sự sạch sẽ, an toàn và tiện nghi cơ bản.

Một trong những hạn chế của không ít homestay vùng cao, miền núi hiện nay là vệ sinh chưa đảm bảo, kỹ năng phục vụ còn hạn chế, thiếu ngoại ngữ và thiếu kiến thức về du lịch bền vững.

Bởi vậy, nhiều địa phương đang đẩy mạnh tập huấn cho người dân về kỹ năng giao tiếp, chế biến món ăn, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và kỹ năng phục vụ khách quốc tế.

Phát triển homestay hiệu quả không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là hành trình giữ gìn bản sắc, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế lâu dài, bền vững cho đồng bào miền núi
Phát triển homestay hiệu quả không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là hành trình giữ gìn bản sắc, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế lâu dài, bền vững cho đồng bào miền núi

Ở tỉnh Lào Cai, nhiều lớp đào tạo ngắn hạn về du lịch cộng đồng đã giúp người dân thay đổi rõ rệt trong cách làm homestay. Không ít thanh niên người Mông, Dao,... giờ đã có thể giao tiếp tiếng Anh cơ bản với du khách quốc tế.

Đó là tín hiệu tích cực cho thấy du lịch cộng đồng vùng cao, miền núi đang dần chuyên nghiệp hơn.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả vẫn là phát triển homestay phải đi cùng bảo vệ môi trường và gìn giữ văn hóa.

Miền núi phía Bắc hấp dẫn bởi vẻ đẹp nguyên sơ. Nếu phát triển du lịch ồ ạt, bê tông hóa bản làng hay xả rác tràn lan, chính du lịch sẽ phá hủy tài nguyên của mình.

Nhiều địa phương hiện nay đã bắt đầu chú trọng mô hình “du lịch xanh”, khuyến khích homestay sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, hạn chế rác thải nhựa và giữ gìn cảnh quan tự nhiên./.