Từ khóa: Chuyển đổi số ở nông thôn; Dân tộc thiểu số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đồng bào DTTS sử dụng điện thoại thông minh để livestream bán hàng nông sản1. Thực trạng chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Chuyển đổi số tại nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đang gặp nhiều khó khăn so với khu vực đô thị và các vùng, miền khác trong cả nước.
Thứ nhất, hạ tầng viễn thông và Internet đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
Cùng với những bước tiến vượt bậc về hạ tầng viễn thông tại Việt Nam, 10 năm qua, hạ tầng viễn thông tại vùng đồng bào DTTS&MN cũng có bước cải thiện đáng kể. Cáp quang đã tới toàn bộ thôn, bản, sóng di động phủ rộng cả nước… Giai đoạn 2021-2025, thực hiện Tiểu dự án 2: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS&MN trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào DTTS&MN, các địa phương đã thực hiện 60 dự án công nghệ thông tin; Xây dựng 933 điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh trật tự…
Tuy vậy, hạ tầng công nghệ thông tin vẫn chưa được đầu tư đầy đủ và đồng đều giữa các vùng, nhất là tại các địa bàn khó khăn. Tại một số thôn bản, sóng còn yếu, chập chờn; Băng thông thấp, không đáp ứng được các dịch vụ số có dung lượng lớn; Hạ tầng viễn thông, Internet chưa bền vững trước thiên tai. Những hạn chế này khiến đồng bào dân tộc thiểu số khó hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số thường xuyên, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến mức độ cao.
Thứ hai, tiếp cận thiết bị số còn hạn chế do tác động của chi phí và điều kiện sử dụng
Theo kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng KT-XH 53 DTTS lần thứ III năm 2024, tỷ lệ hộ gia đình người dân tộc thiểu số có kết nối Internet tại nhà tính đến thời điểm 01/7/2024 đạt 85,6%; Tỷ lệ này ở vùng nông thôn đạt 84,2%. Tỷ lệ hộ DTTS ở nông thôn có điện thoại di động khá cao, trên 78%... Tuy nhiên, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số ở nông thôn có máy vi tính để bàn, hoặc laptop rất khiêm tốn, chỉ trên 10%. Nhiều hộ dùng chung một thiết bị cho cả gia đình. Thiết bị chủ yếu ở phân khúc giá rẻ, cấu hình thấp, nhanh xuống cấp, hạn chế khả năng cài đặt và sử dụng các ứng dụng phục vụ chuyển đổi số. Đây là rào cản lớn trong việc phổ cập và triển khai các nền tảng số phức tạp đến đồng bào.
Thứ ba, trình độ, kỹ năng số của đồng bào và cán bộ cơ sở còn hạn chế
Kỹ năng số đang được xem là điểm nghẽn lớn nhất trong chuyển đổi số vùng đồng bào DTTS&MN. Phần lớn đồng bào sử dụng Internet cho mục đích giải trí. Người cao tuổi chưa quen sử dụng công nghệ do sợ bấm sai, ngại thao tác. Bà con vẫn thích nộp hồ sơ giấy, tâm lý e ngại thanh toán không dùng tiền mặt còn phổ biến.
Ở cấp xã, phần lớn cán bộ chưa theo kịp yêu cầu mới về chuyển đổi số trong khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đòi hỏi sự thích nghi nhanh của cả hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ các cấp. Thiếu dữ liệu dùng chung và công cụ giám sát số hóa cũng là những rào cản lớn trong triển khai đồng bộ nông thôn số và chính quyền số cấp xã - cấp trực tiếp thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia MTQG trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Thứ tư, ít tài liệu hướng dẫn nội dung số bằng tiếng dân tộc và nền tảng công nghệ chưa thân thiện với đồng bào
Nội dung số chủ yếu bằng tiếng phổ thông, ít tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng dân tộc nên thông điệp số khó tới được đồng bào. Hiện nay, nhiều địa phương đã bước đầu thực hiện bằng song ngữ hoặc tổ chức các lớp hướng dẫn bằng tiếng dân tộc, giúp người dân hiểu rõ hơn lợi ích của chuyển đổi số. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ và chưa đồng bộ. Hệ quả là nhiều nền tảng được đầu tư nhưng tỷ lệ sử dụng thực tế thấp, chuyển đổi số khu vực nông thôn diễn ra chậm, chưa hình thành rõ các mô hình nông thôn số thực chất, có khả năng nhân rộng.
2. Những vấn đề đặt ra đối với chuyển đổi số ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Một là, khoảng cách số không chỉ là hạ tầng, mà còn là năng lực
Vấn đề này đang là “điểm nghẽn” lớn nhất của chuyển đổi số ở vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay. Thực tế cho thấy, ở nhiều địa bàn, sóng 4G đã phủ, cáp quang đã kéo tới trung tâm xã, thiết bị đã được hỗ trợ nhưng đồng bào sử dụng còn chưa thành thạo, thường xuyên. Khoảng cách số vì thế chuyển từ “không có mạng” sang “có mạng nhưng không khai thác được”.
Năng lực số không chỉ là kỹ năng thao tác mà còn là khả năng tiếp nhận thông tin, lựa chọn và sử dụng các dịch vụ số một cách chủ động, gắn với sinh kế, học tập, chăm sóc sức khỏe và tiếp cận chính sách. Khi đồng bào chưa thấy thương mại điện tử giúp bán nông sản, chưa thấy hồ sơ điện tử giúp đi viện đỡ vất vả, chưa thấy dịch vụ công trực tuyến giúp tiết kiệm thời gian và chi phí thì họ chưa thấy hết ý nghĩa của chuyển đổi số. Vì vậy, nếu không đầu tư bài bản cho con người thì khoảng cách số sẽ khó thu hẹp giữa vùng đồng bào DTTS&MN với các vùng khác.
Hai là, chuyển đổi số chưa gắn chặt với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số
Thực tế cho thấy nhiều nơi vẫn dừng ở tập huấn kỹ năng cài ứng dụng, mở tài khoản, tạo gian hàng… nhưng thiếu chuỗi hỗ trợ hoàn chỉnh từ sản xuất, tiêu chuẩn hóa, đóng gói, logistics, thanh toán, chăm sóc khách hàng. Đồng bào dân tộc thiểu số được hướng dẫn lên sàn thương mại điện tử nhưng không có sự đồng hành để bán được hàng; Được khuyến khích livestream nhưng không có nguồn hàng ổn định; Được tạo ví điện tử nhưng thu nhập vẫn bấp bênh. Ở vùng đồng bào DTTS&MN, chuyển đổi số chỉ thực sự bền vững khi trở thành một phần sinh kế của đồng bào.
Ba là, thiếu mô hình tổ chức thực thi ở cơ sở
Thôn, bản - nơi gần dân nhất nhưng đang còn hạn chế về chuyển đổi số. Nhiều thôn, bản không có cán bộ chuyên trách về công nghệ, lực lượng nòng cốt chủ yếu là trưởng thôn, bí thư chi bộ, già làng, người có uy tín hoặc tổ công nghệ số cộng đồng hoạt động kiêm nhiệm, dựa nhiều vào tinh thần trách nhiệm. Kinh phí hỗ trợ gần như không có; Thiết bị thiếu và cũ; Tài liệu hướng dẫn không phù hợp ngôn ngữ, văn hóa. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đưa người dân lên môi trường số trở thành một nhiệm vụ quá sức đối với thôn, bản. Khi thôn, bản hạn chế về kỹ năng số, chuyển đổi số sẽ bị “nghẽn” ở khâu cuối cùng. Nếu không giải được bài toán thôn, bản, chuyển đổi số ở vùng đồng bào DTTS&MN sẽ khó trở thành động lực phát triển bền vững.
Bốn là, thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả thực chất
Nhiều chỉ số đánh giá hiện nay vẫn nghiêng về đầu vào như bao nhiêu xã phủ sóng, bao nhiêu ứng dụng được cài, bao nhiêu tổ công nghệ số cộng đồng được thành lập… Trong khi các chỉ số đầu ra như: tỷ lệ người dân DTTS sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thu nhập tăng thêm nhờ thương mại điện tử, giảm chi phí đi lại khi khám chữa bệnh từ xa, hay thời gian giải quyết thủ tục hành chính được rút ngắn bao nhiêu lại hiếm khi được theo dõi một cách hệ thống. Muốn chuyển đổi số đi vào chiều sâu, cần một hệ tiêu chí đánh giá dựa trên tác động xã hội, sinh kế và năng lực tự thân của người dân, tức là đo lường thực chất hơn.
3. Một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới để Việt Nam trở thành nước phát triển thu nhập cao vào năm 2045. Do đó, đẩy mạnh chuyển đổi số ở nông thôn vùng đồng bào DTTS&MN trong những năm tới chính là góp phần đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị vào thực tiễn cuộc sống.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, những điểm nghẽn trong triển khai thời gian qua, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Thứ nhất, chuyển cách tiếp cận chính sách từ “phổ cập công nghệ” sang “giải quyết vấn đề phát triển”
Giải pháp này là một bước điều chỉnh cần thiết, thậm chí mang tính quyết định đối với chuyển đổi số ở vùng đồng bào DTTS&MN. Cách tiếp cận “giải quyết vấn đề phát triển” buộc chính sách phải đi ngược chiều quen thuộc, không còn đặt nặng việc “ai cũng có ứng dụng, ai cũng có tài khoản” mà xác định lại vai trò trung tâm của đồng bào, để từ đó lựa chọn giải pháp số phù hợp, vừa đủ, dễ dùng, chi phí thấp, bám sát sinh kế, giúp đồng bào giải quyết những vấn đề cụ thể, như: Đầu ra nông sản, tiếp cận y tế, giáo dục, quản trị sản xuất… nhằm tạo ra giá trị thực cho cộng đồng
Thứ hai, gắn chặt chuyển đổi số với Chương trình MTQG về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Chương trình MTQG về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035 là không gian chính sách quan trọng nhất để tổ chức thực thi chuyển đổi số một cách bài bản. Hiện nay, trong Hợp phần thứ nhất: Xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững đã thiết kế riêng nội dung 06: Phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ở nông thôn để thực hiện nhóm tiêu chí số 07 về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026-2030.
Nội dung thực hiện của dự án gồm: (1) Triển khai một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo phục vụ xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững hướng tới “nông nghiệp sinh thái”, “nông thôn hiện đại”, “nông dân văn minh”, “giảm nghèo đa chiều, phát triển bền vững”. Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ phục vụ đời sống và phát triển kinh tế nông thôn. (2) Triển khai hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số” trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững; Thí điểm xây dựng các mô hình “chợ số - nông thôn số”; Phát triển và nhân rộng các mô hình “thôn nông thôn mới thông minh”. Bổ sung cấu phần chuyển đổi số trong các dự án thành phần về sinh kế, giáo dục, y tế, thông tin truyền thông, thay vì coi đây là nội dung phụ trợ. Hỗ trợ đồng bào DTTS tiếp cận thông tin về khoa học công nghệ và quảng bá các sản phẩm của địa phương cho bạn bè trong nước và thế giới. Nâng cao khả năng ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển KT-XH cho vùng đồng bào DTTS&MN, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong triển khai thực hiện Chương trình.
Tại Hợp phần 2: Phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN đã thiết kế Hoạt động số 02: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS&MN, gồm các nội dung: (1) Chuyển đổi số trong tổ chức triển khai thực hiện Chương trình. (2) Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ Internet vạn vật trong đẩy mạnh sản xuất thông minh, chuyển đổi số trong các nội dung như phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, xây dựng, logistics, du lịch ... trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN. (3) Tổ chức các hội nghị, hội thảo, buổi làm việc trực tuyến của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan giúp việc của Ban Chỉ đạo Trung ương liên quan đến công tác chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện Chương trình. (4) Hỗ trợ thiết lập, duy trì các điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin tại xã, thôn để phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo an ninh trật tự. (5) Hỗ trợ xây dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào DTTS&MN. (6) Xây dựng bộ chỉ tiêu giám sát riêng về chuyển đổi số vùng DTTS&MN, chú trọng chỉ tiêu kết quả như mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, hiệu quả ứng dụng số trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, khả năng tiếp cận thông tin chính sách. (7) Cho phép sử dụng linh hoạt kinh phí Chương trình để duy trì các mô hình hỗ trợ tại cơ sở, đặc biệt là tổ công nghệ số cộng đồng, coi đây là một thiết chế phát triển cộng đồng lâu dài.
Thứ ba, đổi mới tổ chức thực thi ở cấp cơ sở, lấy cộng đồng làm trung tâm
Hiện nay, chuyển đổi số vẫn chủ yếu được triển khai theo mô hình hành chính, từ trên xuống, trong khi năng lực của cộng đồng dân tộc thiểu số còn hạn chế. Do đó, cần đổi mới cách tổ chức thực thi theo hướng dựa vào cộng đồng và phát huy chủ thể địa phương. Trọng tâm là củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng tại thôn, bản. Các tổ này không chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật, mà cần được giao vai trò trung gian kết nối người dân với chính quyền số, dịch vụ công và các nền tảng kinh tế số. Có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ xã, thôn, bản về kỹ năng số. Thiết kế các chương trình đào tạo kỹ năng số theo nguyên tắc học để dùng ngay, tập trung vào các kỹ năng thiết yếu như: sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, bán hàng trên nền tảng số, tiếp cận thông tin chính sách. Ưu tiên đào tạo lực lượng hạt nhân tại mỗi thôn, bản gồm những người hiểu văn hóa, ngôn ngữ, tập quán địa phương để đảm bảo tính bền vững và khả năng lan tỏa của quá trình chuyển đổi số.
Thứ tư, phát triển nội dung và nền tảng số dễ tiếp cận
Cần ưu tiên phát triển nội dung số đa ngôn ngữ, trước mắt tập trung vào các dân tộc có quy mô dân số lớn; lồng ghép yếu tố văn hóa địa phương trong thiết kế nội dung và truyền thông. Đơn giản hóa giao diện người dùng, giảm tối đa thao tác kỹ thuật, phù hợp với người ít kỹ năng số và thiết bị cấu hình thấp. Khuyến khích các địa phương, hợp tác xã, cộng đồng xây dựng kho nội dung số về sản phẩm đặc trưng, tri thức địa phương, du lịch cộng đồng để vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo tồn văn hóa.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế điều phối, giám sát và đánh giá hiệu quả chuyển đổi số
Chuyển đổi số vùng đồng bào DTTS&MN là bài toán liên ngành, liên cấp, đòi hỏi một cơ chế điều phối đủ mạnh và hệ thống đánh giá dựa trên tác động thực chất. Đánh giá hiện nay vẫn nghiêng về số lượng nền tảng, tài khoản, mô hình trong khi thiếu các chỉ số phản ánh thay đổi trong đời sống người dân. Do đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá riêng cho chuyển đổi số vùng đồng bào DTTS&MN, nhấn mạnh các chỉ số kết quả như: Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, mức tăng thu nhập từ các mô hình kinh tế số, mức độ tiếp cận thông tin chính sách. Tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng, các tổ chức xã hội, các cơ quan nghiên cứu, coi phản hồi từ người dân là kênh đánh giá quan trọng để điều chỉnh chính sách kịp thời.
4. Kết luận
Nông thôn vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ là địa bàn sản xuất mà còn là không gian sống, là nơi giữ vai trò chiến lược về văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Thúc đẩy chuyển đổi số ở vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ là một hợp phần kỹ thuật trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, mà là bài toán phát triển mang tính cấu trúc, gắn trực tiếp với công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Thực tiễn cho thấy, nếu tiếp cận chuyển đổi số theo tư duy hành chính - công nghệ thuần túy, thiếu gắn kết với sinh kế, văn hóa và năng lực cộng đồng thì nguy cơ “khoảng cách số” sẽ ngày càng gia tăng. Ngược lại, nếu đặt con người làm trung tâm, lấy cộng đồng làm chủ thể, xem chuyển đổi số là công cụ giải quyết các vấn đề phát triển cụ thể thì đây có thể trở thành đòn bẩy quan trọng giúp vùng đồng bào DTTS&MN rút ngắn quá trình phát triển .
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 257/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035.
3. Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG (2025). Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ 2021-2025.
4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Kết quả điều tra thu thập thông tin 53 dân tộc thiểu số lần thứ III năm 2024. http://cema.gov.vn/thong-bao/thong-bao-cap-nhat-ra-soat-ket-qua-dieu-tra-thu-thap-thong-tin-ve-thuc-trang-kinh-te-xa-hoi-cua-53-dan-toc-thieu-so-nam-2024.htm