Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chuyển hóa “vốn văn hóa” thành “vốn kinh tế” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Trần Trí Dũng - 1 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Văn hóa các dân tộc thiểu số là nguồn lực nội sinh quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích chính sách và số liệu thống kê giai đoạn 2021-2025, bài viết làm rõ mức độ chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế thông qua Chương trình OCOP và du lịch nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kết quả cho thấy sự gia tăng mạnh mẽ cả về quy mô sản phẩm, doanh thu và mức độ tham gia của cộng đồng DTTS vào chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ, góp phần tạo thêm sinh kế cho cộng đồng và khẳng định vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh trong phát triển bền vững.

Từ khóa: Nguồn lực văn hóa; Dân tộc thiểu số; OCOP; Du lịch cộng đồng.

1. Đặt vấn đề

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết phát triển đất nước”. Với 53 dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống chủ yếu ở miền núi, biên giới, những địa bàn chiến lược về an ninh và sinh thái thì nguồn lực văn hóa không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn bản sắc mà còn có giá trị kinh tế ngày càng rõ nét. Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi nguồn lực văn hóa DTTS được tích hợp mạnh mẽ vào các chương trình du lịch nông thôn và Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” - OCOP nhằm xây dựng, phát triển thương hiệu đặc trưng ở mỗi địa phương, qua đó từng bước khẳng định giá trị và chất lượng sản phẩm trên thị trường. Đây là cơ sở để đánh giá thực chất khả năng chuyển hóa “vốn văn hóa” thành “vốn kinh tế”.

Từ khi được Tổ chức Du lịch thế giới trao Giải thưởng “Làng du lịch tốt nhất” năm 2023, làng Thái Hải (Thái Nguyên), nơi sinh sống, bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Tày trở thành địa chỉ du lịch được yêu thích.
Từ khi được Tổ chức Du lịch thế giới trao Giải thưởng “Làng du lịch tốt nhất” năm 2023, làng Thái Hải (Thái Nguyên), nơi sinh sống, bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Tày trở thành địa chỉ du lịch được yêu thích.

2. Cơ sở lý luận

Nguồn lực văn hóa của các DTTS không chỉ là tập hợp những giá trị truyền thống tồn tại trong không gian làng bản, mà là một cấu trúc giá trị đa tầng, có khả năng chuyển hóa thành nguồn vốn phát triển nếu được nhận diện và quản trị đúng cách. Về cấu thành, có thể phân thành ba nhóm chính.

Thứ nhất, di sản văn hóa vật thể, bao gồm kiến trúc truyền thống (nhà rông, nhà dài, nhà sàn…), không gian cư trú, làng nghề thủ công, trang phục, nhạc cụ, sản phẩm chế tác từ tri thức tộc người. Đây là những biểu đạt hữu hình của lịch sử tộc người, đồng thời có khả năng trở thành tài sản kinh tế trong các chuỗi giá trị du lịch, thiết kế sáng tạo, thương mại sản phẩm đặc trưng.

Thứ hai, di sản văn hóa phi vật thể, như: tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghi lễ vòng đời, nghệ thuật trình diễn dân gian, tri thức dân gian về y học, canh tác, bảo vệ rừng… Nhóm giá trị này giữ vai trò cốt lõi trong duy trì bản sắc và truyền nối ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo, đây chính là “nguyên liệu mềm” để hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa, từ biểu diễn nghệ thuật, phim tài liệu, nội dung số đến sản phẩm trải nghiệm văn hóa.

Thứ ba, tri thức tộc người gắn với sinh kế, tức là hệ thống hiểu biết về môi trường tự nhiên, canh tác nông nghiệp, sử dụng dược liệu, quản lý tài nguyên cộng đồng. Đây là lớp giá trị có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển bền vững, bởi nó kết nối trực tiếp giữa văn hóa và kinh tế sinh thái. Khi được chuẩn hóa, bảo hộ và tích hợp vào sản phẩm OCOP, du lịch nông nghiệp hay nông sản hữu cơ, tri thức này có thể tạo ra giá trị gia tăng cao và lợi thế cạnh tranh khác biệt.

Theo tiếp cận phát triển hiện đại, văn hóa không chỉ là “tài nguyên tinh thần” mà là một dạng vốn - vốn văn hóa. Tuy nhiên, khác với tài nguyên vật chất có thể khai thác trực tiếp, vốn văn hóa chỉ tạo ra giá trị khi có ba điều kiện: (i) nhận diện đúng giá trị cốt lõi; (ii) thiết kế cơ chế quản trị phù hợp; (iii) bảo đảm quyền tham gia và hưởng lợi của cộng đồng chủ thể. Nếu thiếu một trong ba yếu tố này, quá trình khai thác có thể dẫn tới thương mại hóa giản đơn, làm suy giảm tính xác thực và làm mất lòng tin của cộng đồng.

Vì vậy, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển cần được nhìn nhận như một quá trình đồng thời và tương hỗ, chứ không phải hai lựa chọn đối lập. Bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên trạng trong bảo tàng; phát triển không đồng nghĩa với thay đổi cấu trúc văn hóa để chiều theo thị hiếu thị trường. Nguyên tắc nền tảng phải là: cộng đồng là chủ thể trung tâm của mọi quyết định liên quan đến di sản của họ. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và bảo hộ; doanh nghiệp đóng vai trò tổ chức thị trường và sáng tạo sản phẩm; nhưng quyền định đoạt giá trị cốt lõi thuộc về cộng đồng.

Lợi ích kinh tế chỉ thực sự bền vững khi được xây dựng trên nền tảng duy trì giá trị nguyên gốc. Một lễ hội bị rút ngắn, giản lược nghi thức để phục vụ khách tham quan có thể tạo doanh thu trước mắt, nhưng nếu làm đứt gãy ý nghĩa thiêng và cấu trúc biểu tượng của cộng đồng, đó là sự đánh đổi dài hạn. Tương tự, sản phẩm thủ công nếu bị công nghiệp hóa hoàn toàn, tách khỏi quy trình truyền thống, sẽ mất đi lợi thế khác biệt - thứ tạo nên giá trị cạnh tranh thực sự.

Do đó, phát triển dựa trên nguồn lực văn hóa DTTS phải tuân thủ ba nguyên tắc chiến lược: bảo đảm tính xác thực, bảo đảm quyền lợi cộng đồng và bảo đảm tính bền vững liên thế hệ. Khi ba nguyên tắc này được tích hợp vào chính sách công nghiệp văn hóa, quy hoạch du lịch và chương trình phát triển vùng DTTS, nguồn lực văn hóa sẽ không chỉ được “khai thác”, mà được chuyển hóa thành động lực phát triển nội sinh lâu dài.

3. Một số kết quả chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thiểu số thành vốn kinh tế giai đoạn 2021-2025

Một là, tính đến tháng 9/2025, cả nước đã có gần 17.400 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, vượt xa chỉ tiêu đề ra; gần 20% chủ thể OCOP là người DTTS. Sản phẩm OCOP do người DTTS sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa các DTTS, bởi phần lớn sản phẩm đó được hình thành từ nghề truyền thống, ẩm thực, dược liệu và tri thức tộc người gắn với đời sống cộng đồng. Nhiều sản phẩm OCOP có vai trò như một “đại sứ” truyền tải những câu chuyện sản phẩm mang tính nhân văn của vùng, miền, giúp lan tỏa giá trị văn hóa DTTS đến bạn bè 5 châu. Những sản phẩm OCOP như: cà phê rang xay, tinh dầu quế, hạt điều, mật ong rừng, chè thảo mộc… xuất xứ từ vùng đồng bào DTTS&MN, do đồng bào DTTS sản xuất đã vươn ra hơn 60 quốc gia, khẳng định vị thế thương hiệu nông sản của vùng trên thị trường quốc tế.

Khi được chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu, các giá trị văn hóa này được chuyển hóa thành hàng hóa và dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, OCOP cũng tạo động lực kinh tế để cộng đồng duy trì nghề truyền thống, bảo tồn không gian văn hóa và tri thức tộc người. Thông qua du lịch nông thôn và trải nghiệm văn hóa, sản phẩm OCOP trở thành cầu nối giữa di sản tộc người và thị trường hiện đại. Vì vậy, OCOP không chỉ là chương trình phát triển kinh tế nông thôn mà còn là cơ chế quan trọng để phát huy nguồn lực văn hóa DTTS trong phát triển bền vững; giúp chuyển đổi mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, hình thành vùng nguyên liệu ổn định và mở ra sinh kế bền vững cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS&MN.

Hai là, du lịch nông thôn đang từng bước phát triển từ mô hình thử nghiệm sang ngành kinh tế bổ trợ, gắn với bản sắc văn hóa và sản phẩm OCOP. Hiện nay, cả nước có khoảng hơn 580 mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn đang hoạt động, tập trung nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều mô hình du lịch nông nghiệp, nông thôn đã thành công và có sự lan tỏa, góp phần hình thành các điểm đến ở các địa phương, như: điểm du lịch cộng đồng của người Dao ở thôn Nậm Hồng (Tuyên Quang); điểm du lịch cộng đồng của người Mông - Hello Mù Cang Chải (Lào Cai); du lịch văn hóa dân tộc Tày bản làng Thái Hải (Thái Nguyên); dịch vụ Homestay Bản Lác của người Thái trắng ở Phú Thọ; du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Núi Chúa (Khánh Hòa) gắn với cộng đồng người Ra-glai; Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Kơ Tu (Quảng Ngãi) của người Ba na... Du lịch nông thôn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn góp phần bảo tồn di sản, giữ gìn môi trường và lan tỏa giá trị văn hóa. Đây chính là “ngành công nghiệp xanh” đặc thù của nông thôn Việt Nam.

Khoảng 60% trong số hơn 2.000 điểm du lịch cộng đồng, làng nghề, nông trại sinh thái của cả nước gắn với ít nhất một sản phẩm OCOP. Doanh thu từ du lịch nông thôn gắn với OCOP đạt trên 25.000 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 15% giá trị sản xuất khu vực nông thôn. Số mô hình du lịch cộng đồng tăng gấp 1,6 lần so với năm 2021. Như vậy, văn hóa DTTS không chỉ là yếu tố “phụ trợ trải nghiệm” mà đang trở thành cấu phần quan trọng trong cấu trúc sản phẩm du lịch.

4. Thảo luận

Nhìn vào kết quả giai đoạn 2021-2025, có thể thấy một chuyển động sâu hơn trong cấu trúc phát triển vùng đồng bào DTTS&MN.

Thứ nhất, đối với chương trình OCOP, nguồn lực văn hóa của đồng bào DTTS đang được tích hợp vào chuỗi giá trị kinh tế với quy mô và độ bền vững cao hơn trước. Không chỉ là số lượng sản phẩm OCOP gia tăng, mà là sự chuyển dịch về chất: từ sản phẩm thuần nông sang sản phẩm mang hàm lượng văn hóa - du lịch - dịch vụ. Ở nhiều địa phương, các nghề thủ công truyền thống, ẩm thực tộc người, dược liệu, lễ hội và không gian sinh hoạt cộng đồng đã trở thành sản phẩm hàng hóa có tiêu chuẩn, có câu chuyện, có thương hiệu. Điều đó cho thấy tri thức tộc người không còn đứng ngoài thị trường mà đang trở thành một cấu phần trong chuỗi giá trị. Khi sản phẩm được xếp hạng OCOP 3, 4, 5 sao, đồng nghĩa với việc nó đã trải qua quá trình chuẩn hóa về chất lượng, bao bì, truy xuất nguồn gốc, quản trị sản xuất. Đây là bước chuyển từ khai thác tự phát sang phát triển có tổ chức, từ “lợi thế văn hóa” sang “tài sản kinh tế”. Vấn đề đặt ra là làm sao để quá trình tích hợp này không làm phai nhạt bản sắc mà vẫn bảo đảm hiệu quả thương mại - một bài toán đòi hỏi quản trị chính sách thận trọng và tầm nhìn dài hạn.

Nhà rông - Kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Nhà rông - Kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

Mức độ tham gia của phụ nữ và cộng đồng DTTS trong OCOP phản ánh rõ tính bao trùm xã hội của chương trình. Ở nhiều mô hình, phụ nữ DTTS giữ vai trò nòng cốt trong hợp tác xã, tổ hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực chế biến nông sản, thảo dược, dệt thổ cẩm, ẩm thực. Sự tham gia này không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn nâng vị thế xã hội của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng. Khi phụ nữ tham gia quản lý sản xuất, điều hành hợp tác xã, họ đồng thời trở thành người giữ lửa cho các giá trị văn hóa truyền thống. Ở góc độ chính sách, điều này cho thấy OCOP không đơn thuần là chương trình kinh tế mà còn là công cụ thúc đẩy bình đẳng giới và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Số hóa sản phẩm và truy xuất nguồn gốc đang mở ra một không gian phát triển mới. Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi minh bạch, việc ứng dụng mã QR, nền tảng thương mại điện tử, sàn giao dịch trực tuyến giúp sản phẩm OCOP của vùng DTTS&MN vượt qua giới hạn địa lý. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược: từ chợ phiên địa phương đến thị trường quốc gia, thậm chí quốc tế. Số hóa cũng góp phần bảo vệ quyền lợi cộng đồng, bởi khi thông tin về nguồn gốc, quy trình sản xuất được công khai, giá trị gia tăng sẽ khó bị chiếm đoạt bởi khâu trung gian.

Tổng thể các xu hướng trên cho thấy OCOP đang chuyển từ giai đoạn mở rộng số lượng sang giai đoạn nâng cao chất lượng và chiều sâu phát triển. Nguồn lực văn hóa DTTS đã được đưa vào dòng chảy kinh tế, phụ nữ và cộng đồng được trao thêm cơ hội và công nghệ số đang mở rộng cánh cửa thị trường.

Thứ hai, du lịch nông thôn chính là cầu nối giữa sản phẩm OCOP và trải nghiệm văn hóa sống động của cộng đồng DTTS. Khi một làng nghề dệt thổ cẩm, một vùng trồng dược liệu, một không gian ẩm thực tộc người được tổ chức thành điểm du lịch cộng đồng, giá trị sản phẩm không còn dừng ở hàng hóa hữu hình mà được nâng lên thành dịch vụ - trải nghiệm - câu chuyện. Du khách không chỉ mua sản phẩm OCOP, mà còn tham gia quy trình sản xuất, nghe kể về nguồn gốc, phong tục, tập quán. Đây chính là cách chuyển hóa tri thức tộc người thành giá trị gia tăng bền vững.

Ở nhiều địa phương, doanh thu từ dịch vụ lưu trú, trải nghiệm văn hóa, ẩm thực truyền thống đã tạo thêm nguồn thu quan trọng bên cạnh bán sản phẩm. Điều này giúp đa dạng hóa sinh kế, giảm phụ thuộc vào sản xuất thuần nông cho đồng bào DTTS. Quan trọng hơn, du lịch nông thôn tạo động lực để cộng đồng giữ gìn không gian văn hóa nguyên gốc: nhà ở, nghề thủ công, lễ hội, tập quán canh tác... Khi bản sắc trở thành tài sản thu hút khách, cộng đồng có động lực kinh tế rõ ràng để bảo tồn văn hóa tộc người.

Du lịch nông thôn đang trở thành một hợp phần quan trọng trong chuỗi giá trị của chương trình OCOP, đặc biệt tại các vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống. Khi các sản phẩm OCOP được gắn với trải nghiệm văn hóa, làng nghề và sinh hoạt cộng đồng, giá trị của sản phẩm không chỉ dừng lại ở hàng hóa mà được mở rộng sang dịch vụ du lịch và trải nghiệm văn hóa. Quá trình này tạo ra nhiều cơ hội việc làm và sinh kế mới cho người dân địa phương. Phụ nữ DTTS thường đảm nhiệm vai trò chủ nhà homestay, chế biến ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm nghề truyền thống. Thanh niên tham gia quảng bá số, vận hành nền tảng trực tuyến, kết nối thị trường. Như vậy, chuỗi giá trị không chỉ có khâu sản xuất mà mở rộng sang dịch vụ, truyền thông, công nghệ, tạo cơ hội cho nhiều nhóm xã hội cùng tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế tại địa phương, qua đó làm rõ và củng cố tính b ao trùm xã hội của chương trình OCOP.

Ở góc độ phát triển dài hạn, du lịch nông thôn còn là “bệ phóng thương hiệu”. Một sản phẩm OCOP nếu chỉ xuất hiện trên kệ siêu thị sẽ cạnh tranh bằng giá và chất lượng. Nhưng khi gắn với một điểm đến, một không gian văn hóa tộc người cụ thể, nó có thêm lớp giá trị cảm xúc và nhận diện địa phương. Điều này đặc biệt quan trọng với sản phẩm của cộng đồng DTTS vì trong đó kết tinh các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng có sức hút đặc thù.

Tóm lại, du lịch nông thôn không phải yếu tố phụ trợ mà là trụ cột bổ sung cho OCOP trong vùng đồng bào DTTS&MN. Nó mở rộng chuỗi giá trị, tăng thu nhập, củng cố bản sắc và nâng cao vị thế cộng đồng. Vấn đề còn lại là quản trị phát triển thế nào để kinh tế đi cùng bảo tồn, đó mới là thước đo thành công bền vững. Trong bối cảnh Quốc hội thống nhất tích hợp ba Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN thành một chương trình thống nhất từ ngày 1/1/2026, sẽ tạo ra bước ngoặt quan trọng giúp gia tăng hiệu quả đầu tư, tránh chồng chéo và thúc đẩy sự liên kết vùng, tạo nền tảng cho OCOP và du lịch nông thôn phát triển bền vững hơn, nhất là ở vùng đồng bào DTTS&MN.

5. Kết luận

Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021- 2025 cho thấy nguồn lực văn hóa của các DTTS đang từng bước được chuyển hóa thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này rất phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Thông qua các chương trình như OCOP và phát triển du lịch nông thôn, nhiều giá trị văn hóa tộc người đã được nhận diện, chuẩn hóa và tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ với quy mô ngày càng mở rộng. Điều này không chỉ tạo thêm sinh kế cho cộng đồng mà còn góp phần khẳng định vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh trong phát triển bền vững. Nếu được nhận diện đầy đủ, quản trị hiệu quả và gắn với các mô hình phát triển kinh tế sáng tạo, nguồn lực văn hóa của các DTTS sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển bền vững, đồng thời làm giàu thêm bản sắc văn hóa của Việt Nam .

Tài liệu tham khảo

1. An Hòa (2025), Từ OCOP đến du lịch nông thôn: Kiến tạo hệ sinh thái kinh tế bền vững và bản sắc Việt, https://dms.gov.vn/ tin-chi-tiet/-/chi-tiet/tu-ocop-den-du-lich-nong-thon-kien-taohe-sinh-thai-kinh-te-ben-vung-va-ban-sac-viet-9119-1.html?

2. Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia (2025), Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.