Từ khóa: Tôn giáo; Chính sách tôn giáo; Campuchia.
Campuchia xác định Phật giáo là Quốc giáo1. Khái quát về tôn giáo ở Campuchia
Nước Campuchia với diện tích 181.035 km2, có đường biên giới trên bộ với Thái Lan, Lào và Việt Nam (1.137 km). Năm 2025, dân số Campuchia là 18,5 triệu người, trong đó người Khmer chiếm gần 90%, người gốc Việt 0,5%, người gốc Hoa 0,1%, còn lại là các dân tộc khác. Về hành chính, Campuchia gồm 21 tỉnh và 03 thành phố trực thuộc Trung ương.
Trước khi Phật giáo truyền vào, cư dân ở Campuchia đều theo Ấn Độ giáo. Thời Angkor huy hoàng - một đế chế hùng mạnh từ thế kỷ IX đến thế kỷ XV, các vị vua Campuchia cũng đều theo Ấn Độ giáo. Đền Angkor Wat xây đầu thế kỷ XII dưới triều Vua Suryavarma II (ở ngôi 1113 1150), Angkor Thom là Thủ đô của Chân Lạp cũng được xây dựng vào cuối thế kỷ XII dưới triều Vua Jayavarman VII (ở ngôi 1181-1201).
Ấn Độ giáo là tôn giáo khoan dung nên mặc dù Ấn Độ giáo là tôn giáo chính nhưng Phật giáo ở Campuchia vẫn phát triển. Thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào Campuchia từ cả hai dòng Bắc tông và Nam tông. Thế kỷ VI đến thế kỷ XII, Phật giáo Bắc tông khá thịnh hành, nhiều ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ này, như: Prasat Banteay Kdei, Ta Prohm, Preah Khan,… Tuy nhiên, vì nhiều lý do, cuối cùng Phật giáo Bắc tông nhường chỗ cho Phật giáo Nam tông.
Phật giáo Nam tông đến Campuchia chủ yếu đến từ Sri Lanca. Từ thế kỷ XV trở đi, Phật giáo Nam tông giữ vai trò chính, lan rộng ra cả nước Campuchia. Về quá trình này, TS. Nguyễn Mạnh Cường làm rõ: “Lại thêm thất bại của người Khmer trước người Xiêm và sự suy tàn của đế chế Angkor nên người Khmer đã chấp nhận Phật giáo Nam tông như sự cứu cánh của mình”. Tác giả Ajahn Chah cho rằng vào thế kỷ XIV, Xiêm La (Thái Lan) đánh chiếm Angkor và gây loạn lạc khắp nơi, trong lúc Chân Lạp phải đối đầu với phản ứng của dân chúng do bất công xã hội, thuế khóa nặng nề, lại phải đóng góp tu chỉnh, bảo trì các công trình đền đài khổng lồ nhằm tôn thờ “một vị vua thiêng liêng”. Chính những điều này đã khiến cho người dân đổ xô đi theo Phật giáo Nam tông. Không những thế, Phật giáo Nam tông bình đẳng hơn, chỉ tôn thờ Phật Thích Ca. Chính Vua Indravarman III (ở ngôi 1295-1308) chuyển sang theo Phật giáo Nam tông. Cũng từ đây, chữ Sanskrit (Phạn) - ngôn ngữ của Ấn Độ giáo được thay bằng chữ Pàli của Phật giáo Nam tông. Sau này, đặc biệt, từ 1867, sau khi triều đại Norodom được xác lập, Phật giáo Nam tông chính thức trở thành quốc giáo ở Campuchia. Phật giáo Campuchia hình thành hai hệ phái Mahanikay (bình dân) và Thommayud (quý tộc). Về cơ cấu tổ chức, Phật giáo ở Campuchia chia làm hai tông phái chính: Một là, Mahanikay chiếm 94% số chùa, với 90% số sư sãi; Hai là, Thommayud số sư sãi và chùa tuy ít nhưng phần lớn là quý tộc xuất gia và được sự ủng hộ của hoàng gia. Cả hai phái đều có Vua sãi bên cạnh Hoàng gia Campuchia được tham gia Hội đồng Ngai vàng, còn gọi là Hội đồng Tôn vương, có trách nhiệm tìm và quyết định người kế nhiệm ngôi vua.
Cộng đồng Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Campuchia gắn với dân tộc Chăm. Tại Campuchia, người Chăm được người Mã Lai (cùng nhóm ngôn ngữ Mã Lai Đa Đảo - Mulayu Polynesien) truyền bá Hồi giáo hình thành cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo trên đất Campuchia, chủ yếu ở tỉnh Kampong Cham, gọi là người Khmer Islam. Sau này, Công giáo, Tin Lành và các tôn giáo khác cũng truyền đến Campuchia nhưng kết quả không như mong muốn.
Năm 2020, số lượng cụ thể về tôn giáo ở Campuchia như sau: Phật giáo có hơn 13,0 triệu tín đồ, 4.872 chùa (phái Bình dân: 4.656, phái Quý tộc: 216); 69.199 sư sãi (phái Bình dân: 64.407, phái Quý tộc: 4.792); có khoảng 25.000 tín đồ theo phái Bắc tông, chủ yếu là người Việt. Hồi giáo: 371.132 tín đồ, 487 thánh đường, 576 Surao (tiểu thánh đường); Công giáo: 22.000 tín đồ, 65 nhà thờ, 02 giám mục, 96 linh mục; Tin Lành: 90.903 tín đồ, 732 cơ sở cầu nguyện thuộc 93 tổ chức. Các tôn giáo khác, như: Cao Đài, Khổng Minh, Phật Quan Thế Âm Bồ Tát,… với 30.734 tín đồ. Như vậy, tuyệt đại đa số người dân Campuchia là tín đồ của các tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo.
2. Chính sách tôn giáo ở Campuchia
Là một quốc gia Phật giáo chiếm đại đa số lại có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của đất nước nên các thể chế chính trị Campuchia từ thời cận đại rất quan tâm đến Phật giáo. Vào những năm 1950, 1960, triều đại Shihanuc chủ trương đề cao Phật giáo và xây dựng “Chủ nghĩa xã hội Phật giáo” với ba trụ cột: Ngai vàng - Phật giáo - Nhân dân, đồng thời thực hiện chính sách trung lập theo lý thuyết “Trung đạo” của Phật giáo. Tuy nhiên “Chủ nghĩa xã hội Phật giáo” của triều đại Sihanouk không khắc phục được khủng hoảng chính trị đương thời, và vì nhiều lý do nên đã dẫn đến cuộc đảo chính vào đầu năm 1970, Lol Non lên nắm quyền theo chế độ quân sự. Lol Non chủ trương chống Khmer đỏ dưới khẩu hiệu “chống bọn vô đạo”, vì theo ông ta “Cộng sản đến, Phật giáo sẽ hoàn toàn loại bỏ”. Dưới chế độ diệt chủng Khmer đỏ (1975-1979), với tư tưởng cực đoan của “bàn tay sắt”, Pol Pot đã phá hoại 2.300 ngôi chùa, 90.000 vị sư bị sát hại, 65.000 vị sư bị đi cải tạo lao động,… Chỉ trong vòng 05 năm dưới chế độ diệt chủng Khmer đỏ, Phật giáo hầu như biến mất ở Campuchia.
Đền thờ Angkor Wat ở CampuchiaĐiểm qua những chặng đường về chính sách và ứng xử đối với tôn giáo ở Campuchia để thấy những nỗ lực của Chính phủ Campuchia hiện nay về vấn đề này. Sau khi tiêu diệt chế độ diệt chủng Pol Pot, ngoài những nỗ lực khắc phục hậu quả về xã hội của chế độ diệt chủng Pol Pot, Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia và Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia rất quan tâm công tác đối với tôn giáo mà trọng tâm là Phật giáo. Trước hết là khắc phục những hậu quả mà chế độ diệt chủng Khmer đỏ gây ra. Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Heng Samrin là người có đóng góp quan trọng trong việc phục hồi Phật giáo đánh giá cao vai trò của Phật giáo đối với đất nước Campuchia trong lịch sử và hiện tại. Ông nói: “Phật giáo đã được xác lập ở Campuchia từ thế kỷ thứ III và từ đó không ngừng phát triển. Phật giáo sẽ tồn tại mãi mãi… Phật giáo là tôn giáo dạy chúng ta sống trong tinh thần dân chủ, đoàn kết và hòa hợp, nghĩ đến lợi ích của đa số hơn là thu vén cá nhân”.
Những nỗ lực của Đảng và Chính phủ, Phật giáo ở Campuchia sớm được phục hồi và phát triển. Năm 1988, ở Campuchia đã phục hồi được 2.292 ngôi chùa với 6.515 sư sãi. Và đến năm 2020 với số lượng là gần 5.000 ngôi chùa và gần 70.000 sư sãi, đưa Campuchia trở lại đúng nghĩa của tên gọi “Đất nước chùa tháp” như xưa.
Thể hiện nhận thức và ứng xử với tôn giáo, nhất là với Phật giáo đã được thể trong Hiến pháp Campuchia năm 1999. Trước hết, Hiến pháp Campuchia xác định: “Phật giáo là quốc giáo”. Mặc dù xác định Phật giáo là quốc giáo nhưng Hiến pháp Vương quốc Campuchia vẫn thể hiện quyền tự do tôn giáo đối với mọi người dân: “Mọi người dân Campuchia có đầy đủ quyền về tôn giáo. Nhà nước đảm bảo tự do tôn giáo, được thực thi các quyền lợi tôn giáo và không được gây ảnh hưởng đến các tín ngưỡng hoặc tôn giáo khác hoặc đến trật tự và an ninh công cộng” (Chương III, Khoản 43). Cũng như Phật giáo, các tôn giáo khác ở Campuchia đều hoạt động bình thường, từ sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, hoạt động của chức sắc, hoạt động về tổ chức như đại hội, hội nghị, phong chức, phong phẩm, đào tạo chức sắc, xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự, xuất bản kinh sách, quan hệ quốc tế,… Riêng đối với tôn giáo của người nước ngoài, Campuchia cũng có những yêu cầu cụ thể để kiểm soát, trong đó yêu cầu phải đăng ký sinh hoạt tôn giáo và việc mở trường đào tạo chức sắc.
Nguyên tắc hiến định về tự do tôn giáo và lấy Phật giáo là quốc giáo nhưng ở Campuchia không có các quy định pháp luật riêng đối với các hoạt động tôn giáo. Không quản lý mang tính chất hành chính đối với hoạt động tôn giáo nhưng Campuchia là quốc gia có cơ quan nhà nước về tôn giáo từ rất sớm, với tên gọi là Bộ Lễ nghi và Tôn giáo. Bộ Lễ nghi và Tôn giáo có chức năng giúp Quốc vương và Chính phủ về mọi công việc liên quan đến tôn giáo. Cụ thể: Hướng dẫn và giúp đỡ tất cả các tổ chức tôn giáo, trong đó đặc biệt là Phật giáo về các hoạt động tôn giáo; Theo dõi và hướng dẫn các cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo thực hiện giáo lý các tôn giáo và pháp luật của Nhà nước; tổ chức các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho Phật giáo; duy trì mối quan hệ và hỗ trợ hoạt động đối với hai vị Samdech Đại Tăng thống (Vua Sãi) và người đứng đầu các tổ chức tôn giáo khác; phối hợp với Bộ Văn hóa - Nghệ thuật nghiên cứu xây dựng các quy định, chương trình về văn hóa theo Phật giáo và truyền thống dân tộc; phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện việc tuyên truyền về kinh sách và các thông tin liên quan đến Phật giáo và các tôn giáo; giám sát việc giáo dục Phật giáo; thúc đẩy thành lập các thư viện trong các cơ sở thờ tự; thực hiện các thỏa thuận hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo.
Bộ máy tổ chức của Bộ Lễ nghi và Tôn giáo Campuchia gồm: Tổng cục Lễ nghi (gồm Vụ Lễ nghi, Vụ Tôn giáo, Vụ Nghiên cứu giáo dục và truyên truyền); Ban Thanh tra Giáo dục Phật giáo; Trường Đại học Phật giáo Sihanouk; Viện Hàn lâm Phật giáo; Ban Thanh tra; Ban Hành chính và tài chính; Văn phòng. Lãnh đạo Bộ Lễ nghi và Tôn giáo gồm có Bộ trưởng và 07 quốc vụ khanh (thứ trưởng), 10 Phó Quốc vụ khanh. Ở cấp tỉnh có Sở Lễ nghi và Tôn giáo, ở cấp huyện có Phòng Lễ nghi và Tôn giáo hoạt động dưới sự chỉ đạo và điều hành theo ngành dọc từ Bộ Lễ nghi và Tôn giáo.
Những nội dung công việc cũng như chức năng, nhiệm vụ của Bộ Lễ nghi và Tôn giáo chính là sự thể hiện chính sách của Chính phủ Campuchia với tôn giáo, nhất là Phật giáo. Và với chức năng đã được xác định, Bộ Lễ nghi và Tôn giáo tập trung vào việc hướng dẫn, giúp đỡ hoạt động của các tôn giáo, nhất là Phật giáo, thực hiện đoàn kết các tôn giáo với trụ cột là Phật giáo; đồng thời Bộ Lễ nghi và Tôn giáo giúp Quốc vương và Chính phủ giải quyết các vướng mắc trong xã hội liên quan đến tôn giáo.
3. Kết luận
Vương quốc Campuchia là quốc gia Đông Nam Á có lịch sử lâu đời gắn với Ấn Độ giáo, Phật giáo Nam tông và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ. Campuchia trải qua một giai đoạn đau thương, suy tàn kể cả với tôn giáo của chế độ diệt chủng của Khmer đỏ. Chính sách đối với Phật giáo Chính phủ Campuchia hiện tại vẫn tiếp tục truyền thống của các triều đại phong kiến, xác định Phật giáo là quốc giáo, nâng đỡ và hỗ trợ đối với Phật giáo. Mặc dù xác định Phật giáo là quốc giáo nhưng Chính phủ Campuchia vẫn ứng xử cân đối với những hoạt động của các tổ chức tôn giáo khác. Chính điều này, Campuchia được đánh giá là một trong những quốc gia tiêu biểu theo cách riêng về chính sách đối với tôn giáo trong khu vực Đông Nam Á.
* Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Tìm hiểu bộ máy làm công tác tôn giáo ở một số nước trên thế giới, Hà Nội 2012.
2. Ajahn Chah, Tìm hiểu Phật giáo Theravada, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội 2014.
3. Nguyễn Mạnh Cường, Phật giáo Khmer Nam Bộ (Những vấn đề nhìn lại), Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội 2008.
4. Trần Quang Thuận, Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2008.
5. Ngô Thị Xuân Lan (Chủ biên), Đối ngoại tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2022.
6. Nguyễn Văn Luận, Người Chàm Hồi gáo ở Miền Tây Nam phần Việt Nam, Tủ sách biên khảo, Sài Gòn 1974.
7. Đỗ Quang Hưng (Chủ biên), Bước đầu tìm hểu về mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2003.
8. Phạm Việt Trung, Lịch sử Campuchia, Nxb. Hà Nội, Hà Nội 1982.
9. Nguyễn Sỹ Tuấn (Chủ biên), Từ điển lịch sử và văn hóa Campuchia, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội 2013.
10. Mai Lý Quảng (Chủ biên), 252 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, Nxb. Thế giới, Hà Nội 2010.
11. Nguyễn Thanh Xuân - Nguyễn Quỳnh Trâm, Tôn giáo và chính sách tôn giáo một số nước trên thế giới, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội 2023.