Địa bàn miền núi phía Bắc luôn là cảm hứng cho các văn nghệ sỹ sáng tác, phản ánh đúng đời sống, bảo tồn được bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số và góp phần xây dựng những giá trị bền vững cho xã hộiTrong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông hiện đại, vấn đề giữ gìn sự trung thực trong sáng tạo văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số càng trở nên quan trọng, cần thiết. Bởi chỉ có sự trung thực mới giúp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số phản ánh đúng đời sống, bảo tồn được bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số và góp phần xây dựng những giá trị bền vững cho xã hội.
Trung thực, nền tảng của sáng tạo nghệ thuật chân chính
Nhà văn Cao Duy Sơn, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa các dân tộc từng cho rằng: Điều kiện quan trọng nhất của nghệ thuật là sự chân thành. Chân thành hay trung thực chính là linh hồn của mọi sáng tạo nghệ thuật.
Đối với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, sự trung thực trước hết là trung thực với đời sống của đồng bào mình. Đó là phản ánh đúng những giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ và tâm hồn của cộng đồng mà người nghệ sĩ đang sống, gắn bó.
Chính vì vây, một tác phẩm văn học hay không nhất thiết phải kể những câu chuyện lớn lao, nhưng nhất định phải chứa đựng sự thật của cảm xúc và sự thật của đời sống. Những trang văn của nhà thơ Y Phương (dân tộc Tày, ông tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh ngày 24/12/1948. Ông quê gốc ở xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh cũ (nay là xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) lay động người đọc không phải bởi những mỹ từ hoa mỹ, mà bởi ông viết bằng chính trải nghiệm của người con sinh ra từ miền núi Cao Bằng. Bài thơ “Nói với con” trở thành tác phẩm quen thuộc với nhiều thế hệ bởi trong đó có sự chân thực của tình phụ tử, của văn hóa người Tày và của khát vọng vươn lên từ cội nguồn.
Tương tự, những sáng tác của nhà thơ Lò Ngân Sủn, nhà văn Vi Hồng, Pờ Sảo Mìn, Inrasara hay Dương Thuấn,… đều có sức sống lâu bền bởi họ không vay mượn bản sắc của dân tộc khác, cũng không tô vẽ cuộc sống bằng những hình ảnh xa lạ. Họ viết từ chính ký ức, từ những điều mắt thấy tai nghe và từ chiều sâu văn hóa của dân tộc mình.
Đặc biệt, sự trung thực ấy đã tạo nên giá trị đích thực của văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số suốt nhiều thập niên qua.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của internet và mạng xã hội, chuyển đổi số, việc quảng bá văn hóa các dân tộc thiểu số có nhiều thuận lợi hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ xuất hiện không ít nguy cơ làm sai lệch bản sắc văn hóa và tính chân thực trong sáng tạo nghệ thuật.
Thực tế cho thấy, ở một số tác phẩm văn học, sân khấu, điện ảnh hoặc các sản phẩm truyền thông hiện nay, hình ảnh đồng bào dân tộc thiểu số đôi khi bị đơn giản hóa, làm màu nhằm tạo hiệu ứng thị giác. Có nơi biến trang phục truyền thống thành đạo cụ trình diễn; có nơi xây dựng hình tượng nhân vật dân tộc thiểu số theo những khuôn mẫu phiến diện như nghèo đói, lạc hậu hoặc chỉ gắn với lễ hội, múa hát…
Đó là cách tiếp cận chưa có chiều sâu và thiếu trung thực với đời sống.
Bên cạnh đó, một số người sáng tác chưa thực sự hiểu văn hóa tộc người nhưng vẫn khai thác đề tài dân tộc thiểu số theo xu hướng thương mại hóa bản sắc, khiến các giá trị văn hóa bị méo mó hoặc mất đi ý nghĩa nguyên gốc.
Khi sự hư cấu vượt quá giới hạn của sự thật văn hóa, tác phẩm có thể trở nên hấp dẫn nhất thời nhưng khó tạo được giá trị lâu dài.
Trung thực để bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
Tiến sỹ Lò Giàng Páo, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam chia sẻ: Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số không chỉ có chức năng thẩm mỹ mà còn là một phương thức bảo tồn văn hóa hiệu quả. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống hiện nay đang đứng trước nguy cơ mai một. Theo thống kê của các cơ quan nghiên cứu văn hóa, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang suy giảm số lượng người sử dụng; một số loại hình dân ca, dân vũ, sử thi và tri thức dân gian đang mất dần người truyền dạy.
Trong bối cảnh đó, văn học nghệ thuật trở thành kho lưu trữ sống của văn hóa tộc người.
Những tác phẩm của nhà thơ Inrasara đã góp phần gìn giữ văn hóa Chăm; những sáng tác của Dương Thuấn giúp quảng bá văn hóa Tày; còn các tác phẩm của Pờ Sảo Mìn mang đến cho bạn đọc những hiểu biết sâu sắc về đời sống người Dao.
Nếu người nghệ sĩ không trung thực với bản sắc văn hóa dân tộc mình, những giá trị được truyền lại cho thế hệ sau sẽ trở nên sai lệch.
Bởi vậy, trung thực trong sáng tạo không chỉ là trung thực với bản thân mà còn là trung thực với lịch sử và với cộng đồng.
Đặc biệt, đối với văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số, trách nhiệm ấy càng lớn lao hơn.
Họ không chỉ là người sáng tạo nghệ thuật mà còn là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa cộng đồng dân tộc mình với xã hội rộng lớn hơn.
Mỗi tác phẩm văn học, mỗi bài thơ, bức tranh, tác phẩm âm nhạc hay bộ phim về đồng bào dân tộc thiểu số đều góp phần hình thành nhận thức của công chúng về cộng đồng ấy.
Nếu phản ánh sai lệch, tác phẩm có thể tạo ra những định kiến hoặc hiểu lầm kéo dài.
Nếu phản ánh trung thực, tác phẩm sẽ góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc và khơi dậy niềm tự hào trong cộng đồng.
Chính vì vậy, người nghệ sĩ cần thường xuyên đi thực tế, sống cùng nhân dân, lắng nghe tiếng nói của cộng đồng và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn để có thể phản ánh đời sống một cách khách quan, chân thực và nhân văn, Tiến sĩ Lò Giàng Páo chia sẻ thêm.
Xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh
Theo Nhạc sĩ Nông Quốc Bình, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho biết: Để giữ gìn sự trung thực trong sáng tạo văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, không chỉ cần nỗ lực từ phía người nghệ sĩ mà còn cần sự quan tâm của các cơ quan quản lý, các hội văn học nghệ thuật và toàn xã hội.
Cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn văn hóa dân tộc làm cơ sở cho sáng tạo nghệ thuật. Cần tổ chức nhiều hơn các trại sáng tác, hội thảo chuyên đề, chương trình giao lưu văn hóa nhằm giúp văn nghệ sĩ tiếp cận thực tiễn đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời, cần tôn vinh những tác phẩm có giá trị chân thực, phản ánh đúng đời sống và bản sắc văn hóa của các dân tộc. Đây sẽ là động lực để đội ngũ văn nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo bằng tinh thần trách nhiệm và sự trung thực.
Nhà văn Nam Cao từng viết: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối”. Câu nói ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
Đối với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, sự trung thực chính là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa bản sắc truyền thống và sự phát triển hiện đại. Chỉ khi trung thực với đời sống, với văn hóa và với chính lương tâm nghề nghiệp, người nghệ sĩ mới có thể tạo nên những tác phẩm có giá trị bền chặt, lâu bền.
Trong quá trình phát triển, hội nhập và chuyển đổi số, giữ gìn sự trung thực trong sáng tạo văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số không chỉ là yêu cầu nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm văn hóa, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm đối với tương lai.
Bởi khi sự thật được tôn trọng, bản sắc được gìn giữ và văn hóa được phản ánh đúng với giá trị vốn có của nó, văn học nghệ thuật sẽ tiếp tục làm tròn sứ mệnh cao quý: lưu giữ hồn dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn con người và góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.