Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Kết nghĩa với buôn, bon dân tộc thiểu số - một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

ThS. Phạm Văn Sử* - 15:09, 07/05/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Công tác dân vận trong kết nghĩa với đồng bào dân tộc thiểu số là phương thức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ thực tiễn công tác kết nghĩa với buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông trước sáp nhập, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Qua đó, tác giả đề xuất giải pháp vận dụng tại tỉnh Lâm Đồng trong điều kiện sáp nhập và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận và giữ vững ổn định chính trị - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ khóa: Kết nghĩa; Dân tộc thiểu số; Đắk Nông; Lâm Đồng; Nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng ngày càng được nâng cao
Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng ngày càng được nâng cao

1. Công tác kết nghĩa giữa cơ quan, đơn vị với buôn, bon ở Đắk Nông

Trước khi sáp nhập với tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 31,93% dân số. Tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng, đồng thời tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp khi các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân, nhất là của đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước, với chế độ.

Xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược, lâu dài và cấp bách, từ khi thành lập năm 2004, Tỉnh ủy Đắk Nông đã ban hành Chỉ thị số 04-CT/TU và UBND tỉnh ban hành Quyết định số 67/2004/QĐ UBND về việc kết nghĩa giữa các cơ quan, đơn vị với các bon, buôn đồng bào dân tộc thiểu số, xác định đây là giải pháp trọng tâm nhằm củng cố khối đại đoàn kết và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn. Thực hiện chủ trương của tỉnh, đã có 87 cơ quan, đơn vị kết nghĩa với 79 bon, buôn, đem lại một số kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, củng cố niềm tin chính trị của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Các cơ quan, đơn vị thường xuyên bám sát cơ sở, chủ động đối thoại, giải thích, định hướng thông tin đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây không phải là quá trình truyền đạt thông tin một chiều mà thực chất là quá trình thuyết phục, vận động và tạo lập sự đồng thuận xã hội. Từ đó, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước từng bước được củng cố vững chắc. Niềm tin chính trị được hình thành từ thực tiễn công tác dân vận là nền tảng cốt lõi, giữ vai trò quyết định trong việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, nâng cao khả năng “tự đề kháng” của đồng bào dân tộc thiểu số trước các thông tin xấu, độc.

Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng không gian mạng và những vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo để tác động vào nhận thức của đồng bào. Do đó, việc cung cấp thông tin chính thống thường xuyên, liên tục, phù hợp với từng nhóm đối tượng đã giúp đồng bào các dân tộc thiểu số phân biệt đúng - sai, hạn chế nguy cơ bị lôi kéo, kích động. Điều này cho thấy, công tác dân vận không chỉ là thực hiện chức năng tuyên truyền mà còn đóng vai trò như một cơ chế “phòng ngừa từ sớm, từ xa đối với các nguy cơ về tư tưởng, góp phần tăng cường “sức đề kháng” xã hội trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Thứ ba, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, các cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ bon, buôn kỹ thuật sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng. Đến nay, 100% bon, buôn có đường cứng hóa, điện lưới quốc gia và nhà văn hóa cộng đồng. Cơ sở giáo dục cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào. Người dân từng bước ứng dụng khoa học kỹ thuật, hình thành nhiều mô hình sản xuất hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2%-4%/năm. Công tác chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường được chú trọng. Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Có thể khẳng định, giải quyết hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội không chỉ mang ý nghĩa phát triển mà còn là điều kiện quan trọng để ổn định tư tưởng và củng cố nền tảng chính trị - xã hội ở cơ sở.

Thứ tư, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng và giải quyết vấn đề phát sinh ở cơ sở.

Đây là nội dung thể hiện rõ vai trò “đi trước một bước” của công tác dân vận. Thông qua bám sát địa bàn, cán bộ, đảng viên kịp thời nắm bắt tâm tư, dư luận trong Nhân dân, nhất là các vấn đề nhạy cảm như đất đai, tôn giáo, đời sống dân sinh hay tác động của thông tin xấu, độc. Trên cơ sở đó, công tác tuyên truyền, vận động được triển khai phù hợp, phối hợp giải quyết ngay khi vấn đề mới phát sinh, không để tích tụ thành mâu thuẫn phức tạp. Việc không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh, trật tự không chỉ phản ánh hiệu quả quản lý xã hội mà còn cho thấy sự vững chắc của nền tảng chính trị - tư tưởng ở cơ sở. Qua đó, công tác dân vận phát huy hiệu quả kết hợp giữa “xây” và “chống”, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ô ̉n định chính trị - xã hội trên địa bàn.

Thứ năm, phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Khi được cung cấp đầy đủ thông tin và định hướng đúng đắn, các già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo và người có uy tín trong cộng đồng thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, giữ vai trò dẫn dắt trong tuyên truyền, vận động Nhân dân. Với uy tín, ảnh hưởng và sự gắn bó chặt chẽ với cộng đồng, tiếng nói của họ có sức thuyết phục sâu sắc, vượt trội so với các hình thức tuyên truyền hành chính. Qua đó, hình thành cơ chế “tự bảo vệ từ bên trong”, góp phần quan trọng nâng cao tính bền vững trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.

Có được những kết quả trên là do cấp ủy các cấp ở Đắk Nông đã xác định công tác kết nghĩa là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, cấp bách đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phương thức triển khai gần dân, sát dân, tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số; có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các lực lượng; gắn kết công tác dân vận với phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của người dân, từ đó củng cố niềm tin và ổn định tư tưởng của đồng bào.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kết nghĩa giữa các cơ quan, đơn vị với buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đó là: tại một số cơ quan, đơn vị, hoạt động kết nghĩa chưa được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, còn mang tính thời điểm, dẫn đến thiếu tính liên tục trong gắn bó giữa cán bộ với Nhân dân, ảnh hưởng đến hiệu quả nắm bắt và định hướng tư tưởng ở cơ sở. Phương thức tiến hành ở một số nơi chậm đổi mới, chưa phù hợp với đặc thù đa dạng của đồng bào dân tộc thiểu số; nội dung tuyên truyền còn thiếu tính đối thoại, chưa phát huy vai trò chủ thể của người dân, làm giảm hiệu quả thuyết phục; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chưa thật sự chặt chẽ, trao đổi thông tin chưa thường xuyên, dẫn đến có thời điểm chưa kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng của Nhân dân; năng lực, kỹ năng công tác dân vận của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, nhất là trong xử lý các vấn đề nhạy cảm...

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhận thức của một số cấp ủy, cán bộ về tầm quan trọng của công tác kết nghĩa và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chưa đầy đủ; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả triển khai công tác kết nghĩa thường xuyên; địa bàn rộng, đa dạng về dân tộc, phong tục, tập quán khiến khó khăn trong triển khai đồng bộ; chưa gắn kết chặt chẽ hoạt động dân vận với chương trình phát triển kinh tế - xã hội; chưa tận dụng triệt để vai trò của người có uy tín trong cộng đồng để tạo cơ chế “tự bảo vệ từ bên trong”. Nếu công tác kết nghĩa không được triển khai thực chất, liên tục và phù hợp, sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra những khe hở trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Kinh nghiệm của Đắk Nông và vận dụng ở tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập

Tỉnh Lâm Đồng mới được hình thành từ sự sáp nhập 3 tỉnh: Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận. Tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập có diện tích gần 24.233 km², dân số khoảng 3,8 triệu người, trong đó hơn 17,6% là đồng bào DTTS, với 48/54 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Về tổ chức hành chính cơ sở, từ 332 xã, phường, thị trấn ban đầu của 3 tỉnh, Lâm Đồng đã tổ chức lại còn 124 đơn vị hành chính cấp xã, phường và đặc khu, trong đó có nhiều xã, phường mới sáp nhập, địa bàn rộng, giao thông phức tạp. Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp sau sáp nhập đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện công tác dân vận, bảo đảm phù hợp với đặc điểm địa bàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở cơ sở.

Kế thừa kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong công tác kết nghĩa giữa các cơ quan, đơn vị với các buôn, bon dân tộc thiểu số tại Đắk Nông trước sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục triển khai đồng bộ công tác này một cách có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đặc thù địa bàn và yêu cầu quản trị trong điều kiện mới.

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ về công tác dân vận trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các cấp uỷ đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc công tác dân vận trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị và Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư. Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp với yêu cầu tăng cường phân cấp, phân quyền, việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về vai trò của công tác dân vận và hoạt động kết nghĩa càng trở nên cấp thiết. Nhận thức đó cần được cụ thể hóa thành trách nhiệm và hành động cụ thể, bảo đảm công tác dân vận được triển khai chủ động, thường xuyên, gắn với nâng cao hiệu lực quản trị ở cơ sở.

Hai là, rà soát, kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức thực hiện hoạt động kết nghĩa theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn sau sáp nhập.

Phân công cơ quan, đơn vị kết nghĩa cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, năng lực và điều kiện thực tế của từng đơn vị, bảo đảm tính hợp lý, tránh chồng chéo hoặc hình thức. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành, phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phát huy vai trò chủ động của cấp cơ sở trong tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết hoạt động kết nghĩa. Chú trọng đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận theo hướng gần dân, sát dân, tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung vận động phải thiết thực, gắn với nhu cầu, lợi ích chính đáng của người dân; phương thức triển khai linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn. Qua đó, nâng cao tính thuyết phục, tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả bền vững của hoạt động kết nghĩa.

Ba là, phát huy vai trò dân vận trong phát triển kinh tế - xã hội.

Gắn chặt công tác dân vận với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, nhất là tại các bon, buôn còn nhiều khó khăn. Trong điều kiện địa bàn được mở rộng sau sáp nhập, chính quyền cơ sở cần phát huy vai trò trung tâm trong tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển. Thông qua hoạt động kết nghĩa, các cơ quan, đơn vị chủ động hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng mô hình sinh kế bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo. Đồng thời, quan tâm phát triển văn hóa, giáo dục, y tế nhằm nâng cao toàn diện chất lượng đời sống, góp phần củng cố nền tảng tư tưởng và niềm tin của Nhân dân.

Bốn là, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và định hướng thông tin.

Các cơ quan, đơn vị chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận, nhất là đối với những vấn đề nhạy cảm phát sinh từ cơ sở; nâng cao khả năng “tự đề kháng” của Nhân dân trước các thông tin xấu, độc, sai trái. Thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần phát huy vai trò của chính quyền cấp xã trong công tác truyền thông cơ sở, bảo đảm thông tin đến với người dân nhanh chóng, chính xác, dễ hiểu và phù hợp với đặc thù từng địa bàn.

Đa dạng hóa nội dung và phương thức tuyên truyền theo hướng kết hợp giữa trực tiếp và ứng dụng công nghệ thông tin, chú trọng các hình thức phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tuyên truyền cần gắn với quyền lợi, nghĩa vụ của người dân, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận xã hội. Qua đó, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, đồng thời góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ cơ sở.

Năm là, tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của lực lượng uy tín trong công tác dân vận.

Thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp với yêu cầu tăng cường sự gắn kết giữa chính quyền với Nhân dân, các già làng, trưởng bon, người có uy tín, chức sắc tôn giáo là lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng, là cầu nối trực tiếp, hiệu quả giữa cấp ủy, chính quyền với cộng đồng dân cư nên có vai trò quan trọng trong công tác dân vận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp nhằm bồi dưỡng, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng này tham gia sâu vào các hoạt động tuyên truyền, vận động, hòa giải ở cơ sở. Thông qua uy tín và ảnh hưởng trong cộng đồng, các chủ thể này có khả năng lan tỏa thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, góp phần giải quyết các mâu thuẫn từ sớm, từ xa. Từ đó, không chỉ nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác dân vận mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn trong điều kiện mới.

Sáu là, chủ động nắm bắt và giải quyết vấn đề phát sinh từ cơ sở.

Các cơ quan, đơn vị thường xuyên bám địa bàn, sâu sát cơ sở, chủ động nắm tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân; tăng cường đối thoại, trao đổi thông tin hai chiều. Gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị của chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần kịp thời phát hiện và xử lý các mâu thuẫn, vướng mắc ngay từ cơ sở, không để phát sinh điểm nóng. Giải quyết mâu thuẫn, vướng mắc từ sớm, từ xa sẽ góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin và tăng cường sự đồng thuận trong Nhân dân.

3. Kết luận

Công tác dân vận gắn với hoạt động kết nghĩa giữa cơ quan, đơn vị với buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số là một phương thức hiệu quả trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở. Thực tiễn tại Đắk Nông trước sáp nhập cho thấy, công tác này khi được triển khai đúng hướng không chỉ góp phần phát triển KT-XH mà còn tăng cường ổn định chính trị, tư tưởng.

Với các đặc điểm của tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp có nhiều điểm mới, việc kế thừa và vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm của Đắk Nông trước sáp nhập có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận, giữ vững ổn định chính trị xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS của địa phương trong giai đoạn hiện nay .

* Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Bí thư (2026), Kết luận số 236-KL/TW, ngày 15/01/2026 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 49-CT/ TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

3. Tỉnh ủy Đắk Nông (2021), Nghị quyết số 13 NQ/TU, ngày 16/12/2021 về công tác giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030.

4. Tỉnh ủy Đắk Nông (2025), Báo cáo số 630/BC TU, ngày 03/01/2025 sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU.

5. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (2025), Báo cáo số 107/BC-SDTTG, ngày 10/10/2025 về tình hình, kết quả công tác quản lý Nhà nước về dân tộc, tôn giáo giai đoạn 2021-2025; kế hoạch giai đoạn 2026-2030.