Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tri thức dân gian trong lịch Đoi của người Mường

Quỳnh Chi - 15:13, 11/10/2026

(DTTG) - Từ bao đời nay, đời sống của người Mường được đúc kết trong câu thành ngữ: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”. Trong đó, “ngày lui, tháng tới” gắn với lịch Đoi - bộ lịch cổ được người Mường sáng tạo từ quá trình quan sát sự vận động của mặt trăng và sao Đoi.

Lịch Đoi được người Mường sáng tạo từ quá trình quan sát sự vận động của mặt trăng và sao Đoi
Lịch Đoi được người Mường sáng tạo từ quá trình quan sát sự vận động của mặt trăng và sao Đoi

Lịch Đoi, còn được gọi là lịch tre, là một trong những tri thức dân gian đặc sắc của người Mường. Không có những con số, ô ngày hay tên tháng như các loại lịch thông thường, bộ lịch được thể hiện bằng những vạch, chấm và ký hiệu khắc trực tiếp trên các thanh tre. Đằng sau hệ thống ký hiệu tưởng chừng giản đơn ấy là kinh nghiệm quan sát thiên nhiên được người Mường đúc kết và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Theo nghệ nhân Mo Mường Bùi Văn Minh, xã Thượng Cốc, tỉnh Phú Thọ: “Bộ lịch chính là sự tổng hợp, đúc kết qua nhiều đời của người Mường xưa, qua quan sát sự vận động của mặt trăng, đặc tính của trăng trong chu kỳ tháng cũng như sự vận chuyển của sao Đoi để phân định thời gian, ngày, giờ, tuần, tháng, năm”.

Một bộ lịch Đoi truyền thống gồm 12 thẻ tre, tương ứng với 12 tháng trong năm. Các thanh tre được dóc, vót và đánh bóng cẩn thận trước khi khắc ký hiệu. Cấu tạo của thẻ gồm gốc lịch, sống lịch và mặt lịch, trên đó có 30 dấu tương ứng với 30 ngày trong tháng.

Theo cách tính của người Mường, một tháng được chia thành ba khoảng: từ ngày 1 đến ngày 10 gọi là “ngày cây”, từ ngày 11 đến ngày 20 là “ngày lồng”, còn từ ngày 21 đến ngày 30 là “ngày cuối”. Trong đó, các ngày thuộc khoảng “ngày cây” thường được lựa chọn để tiến hành những công việc quan trọng.

Điểm đặc biệt của lịch Đoi nằm ở hệ thống ký hiệu dùng để biểu thị tính chất tốt - xấu của từng ngày cũng như một số hiện tượng tự nhiên. Chẳng hạn, nét gạch thẳng biểu thị ngày mưa, hình mũi tên báo hiệu ngày có gió bão, ký hiệu giống chữ “V” chỉ ngày thuận lợi cho việc chài lưới, đánh bắt cá, còn những dấu chấm hoặc lỗ có thể báo hiệu ngày không thuận, cần tránh tiến hành việc lớn.

Lịch Đoi vận hành theo hệ thống quy ước riêng nên lịch Đoi chậm hơn lịch Âm khoảng 15 ngày. Vì vậy, tại một số vùng Mường ở Phú Thọ, sau Tết Nguyên đán, người dân còn duy trì tục ăn Tết Đoi, hay còn gọi là “ăn Tết lại”.

Lịch Đoi còn gắn với nhiều công việc quan trọng của gia đình và cộng đồng người Mường. Với việc dựng nhà, ngay từ khi bắt đầu đào móng, gia chủ đã xem lịch để lựa chọn ngày phù hợp. Người Mường có câu: “Là mùa cây tha, là nhà cây trong”, nghĩa là làm mùa vụ vào ngày cây tha, làm nhà vào ngày cây trong. Theo quan niệm dân gian, lựa chọn đúng ngày gửi gắm mong ước việc dựng nhà diễn ra thuận lợi, ngôi nhà bền vững, gia đình làm ăn hanh thông. Tương tự, lịch Đoi còn được ứng dụng trong sản xuất, cưới hỏi, lễ cúng và các sinh hoạt cộng đồng.

Lịch Đoi còn gắn với nhiều công việc quan trọng của gia đình và cộng đồng người Mường
Lịch Đoi còn gắn với nhiều công việc quan trọng của gia đình và cộng đồng người Mường

Hiện nay, tri thức xem lịch Đoi chủ yếu được lưu giữ bởi các thầy Mo, nghệ nhân và một số người cao tuổi tại những vùng Mường lớn như Bi, Vang, Thàng, Động. Tuy nhiên, trước những thay đổi của đời sống hiện đại, số người có khả năng đọc và sử dụng thành thạo lịch Đoi ngày càng ít.

Bên cạnh đó, những biến đổi về môi trường sống và khí hậu cũng khiến một số kinh nghiệm dự báo tự nhiên được hình thành trong điều kiện trước đây không còn hoàn toàn phù hợp với thực tế. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ lưu giữ những bộ lịch cổ mà còn phải tiếp tục nghiên cứu, giải mã và giúp những tri thức gắn với bộ lịch được tiếp nối trong đời sống cộng đồng.

Để bộ lịch cổ của người Mường không bị mai một, thất truyền, năm 2022, Tri thức dân gian lịch Đoi (lịch tre) của người Mường đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia./.