Từ khóa: Vai trò; Kinh tế tư nhân; Phát triển kinh tế - xã hội; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số mạnh mẽ và yêu cầu phát triển bền vững, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đang đứng trước cả cơ hội lớn lẫn thách thức phức tạp. Đây là khu vực có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái, song vẫn là “vùng trũng” của nền kinh tế với hạ tầng yếu kém, thị trường hạn chế, sinh kế bấp bênh và tỷ lệ nghèo đa chiều cao. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm mô hình phát triển mới, hiệu quả và phù hợp với đặc thù văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trở thành yêu cầu cấp thiết.
Kinh tế tư nhân (KTTN) với khả năng huy động nguồn lực xã hội, linh hoạt trong quản trị, nhạy bén với thị trường và khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo đang nổi lên như một động lực quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập và khai thác hiệu quả tiềm năng địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực này vẫn đối mặt với nhiều rào cản về thể chế, tiếp cận vốn, nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh.
Do đó, nghiên cứu vai trò của KTTN đối với phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào DTTS&MN có ý nghĩa quan trọng, góp phần đề xuất các chính sách phù hợp cho giai đoạn phát triển mới.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Tình hình kinh tế tư nhân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Vai trò của kinh tế tư nhân đang góp phần quan trọng vào sự phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiKTTN tại các vùng đồng bào DTTS&MN hiện đang phát triển theo hướng đa dạng nhưng vẫn còn manh mún và thiếu đồng bộ. Theo số liệu từ các cơ quan thống kê và nghiên cứu phát triển vùng, số lượng doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và hợp tác xã kiểu mới ở khu vực này đã gia tăng đáng kể trong hai thập kỷ gần đây, đặc biệt ở các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, thủ công mỹ nghệ và thương mại dịch vụ. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn thuộc quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính hạn chế, thiếu khả năng tiếp cận vốn ngân hàng và các chính sách hỗ trợ ưu đãi.
Cơ cấu ngành nghề của KTTN tại vùng đồng bào DTTS&MN có tính đặc thù. Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, khu vực tư nhân đóng vai trò chủ lực trong chế biến, bảo quản và kết nối sản phẩm nông - lâm đặc sản với thị trường bên ngoài. Một số mô hình như hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp xã hội và liên kết hộ dân đã bắt đầu hình thành chuỗi giá trị bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho đồng bào. Bên cạnh đó, du lịch sinh thái, văn hóa, dịch vụ lưu trú cộng đồng và các sản phẩm thủ công truyền thống đang được khai thác theo hướng thương mại hóa, tạo thêm việc làm tại chỗ và tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường. Các doanh nghiệp tư nhân tiên phong trong ứng dụng chuyển đổi số, thương mại điện tử và marketing trực tuyến đã mở rộng khả năng tiêu thụ sản phẩm đặc hữu, đồng thời gia tăng giá trị gia tăng.
Mặc dù vậy, KTTN tại các vùng đồng bào DTTS&MN còn đối mặt nhiều hạn chế, như:
Thứ nhất, hạ tầng giao thông, điện năng, viễn thông và logistics chưa đồng bộ khiến chi phí vận hành cao, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế.
Thứ hai, năng lực quản trị, kỹ năng kinh doanh và kiến thức thị trường của chủ thể tư nhân còn yếu, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng mở rộng quy mô.
Thứ ba, các doanh nghiệp nhỏ lẻ thường thiếu liên kết theo chuỗi giá trị và ít tham gia vào mạng lưới hợp tác công - tư, khiến tiềm năng khai thác tài nguyên địa phương và giá trị văn hóa chưa được phát huy tối đa.
Thứ tư, rào cản về thể chế, bao gồm thủ tục hành chính phức tạp, khó tiếp cận vốn tín dụng và chính sách ưu đãi còn hạn chế cũng làm giảm động lực đầu tư.
Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều chiều cạnh. Ngoài yếu tố khách quan như địa hình đồi núi, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thị trường hạn chế, còn có những yếu tố chủ quan liên quan đến trình độ quản trị, năng lực sáng tạo và nhận thức về liên kết chuỗi giá trị. Đồng thời, chính sách hỗ trợ phát triển KTTN tại vùng đồng bào DTTS&MN chưa thực sự đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tóm lại, KTTN tại vùng đồng bào DTTS&MN đã có bước tiến đáng kể, trở thành động lực quan trọng trong thúc đẩy sinh kế, việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn còn manh mún, phân tán và chịu nhiều hạn chế từ thể chế, hạ tầng, nguồn lực con người và đặc thù địa phương. Việc đánh giá thực trạng KTTN tại các vùng này cung cấp cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả đầu tư và khai thác tiềm năng KT-XH của vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay.
2.2. Vai trò của kinh tế tư nhân đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
KTTN đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời là nhân tố quan trọng kết nối giữa nguồn lực nội sinh, môi trường thể chế và nhu cầu thị trường, cụ thể:
Một là, khu vực KTTN là động lực tăng trưởng kinh tế địa phương, thông qua đầu tư vốn xã hội hóa vào các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng và dịch vụ thương mại. Nhờ khả năng linh hoạt trong quản trị và nhạy bén với cơ hội thị trường, khu vực tư nhân giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, gia tăng giá trị, gia tăng sản phẩm đặc thù và mở rộng quy mô tiêu thụ ra thị trường vùng và quốc gia.
Hai là, KTTN góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào DTTS. Các mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã kiểu mới, hoặc doanh nghiệp xã hội khai thác nông nghiệp hữu cơ, du lịch văn hóa, thủ công mỹ nghệ đã tạo sinh kế tại chỗ, hạn chế di cư lao động, đồng thời cải thiện phúc lợi xã hội và giảm nghèo đa chiều. Mức độ tham gia của khu vực tư nhân vào mạng lưới chuỗi giá trị liên vùng cũng góp phần hình thành cơ hội kinh tế ổn định, tăng khả năng chống chịu rủi ro của cộng đồng DTTS trước biến đổi khí hậu và bất ổn thị trường.
Ba là, KTTN thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại vùng đồng bào DTTS&MN. Khu vực tư nhân tiên phong trong ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý tài nguyên và quảng bá sản phẩm đặc thù. Qua đó, khu vực tư nhân không chỉ gia tăng năng suất lao động mà còn hình thành các mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn, bảo vệ môi trường và tài nguyên địa phương.
Bốn là, khu vực tư nhân có vai trò quan trọng trong phát huy giá trị văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng. Các doanh nghiệp tư nhân hợp tác với cộng đồng địa phương trong khai thác du lịch văn hóa, sinh thái không chỉ tạo nguồn thu mới mà còn thúc đẩy bảo tồn bản sắc văn hóa, nâng cao nhận thức về giá trị di sản, đồng thời khuyến khích đồng bào tham gia tích cực vào các hoạt động KT-XH.
Năm là, KTTN góp phần thúc đẩy liên kết vùng và hoàn thiện hạ tầng địa phương. Các doanh nghiệp tham gia đầu tư hạ tầng giao thông, năng lượng tái tạo, logistics, hay phát triển dịch vụ cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và gia tăng hiệu quả đầu tư xã hội. Sự tham gia này cũng tạo áp lực cải thiện thể chế, tăng cường quản trị và minh bạch hóa môi trường kinh doanh.
Do vậy, KTTN tại vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ là lực lượng sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập, mà còn là động lực đổi mới, kết nối cộng đồng, bảo tồn văn hóa và thúc đẩy phát triển bền vững. Vai trò này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu phát triển bao trùm, hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số đòi hỏi khu vực tư nhân tham gia một cách chủ động, hiệu quả và sáng tạo, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển KT-XH toàn diện vùng đồng bào DTTS&MN.
2.3. Những thách thức mới đối với khu vực tư nhân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Mặc dù, KTTN đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN, nhưng khu vực tư nhân đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới, như:
Thứ nhất, biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến nông - lâm nghiệp và các hoạt động sản xuất tại vùng đồng bào DTTS&MN. Lũ quét, hạn hán và sạt lở đất không chỉ làm giảm năng suất mà còn gia tăng chi phí bảo hiểm và rủi ro đầu tư, khiến khu vực tư nhân khó đảm bảo phát triển bền vững.
Thứ hai, cạnh tranh thị trường trong bối cảnh hội nhập ngày càng gay gắt, đặc biệt đối với sản phẩm nông - lâm nghiệp và thủ công mỹ nghệ. Khu vực tư nhân vùng đồng bào DTTS&MN thường quy mô nhỏ, năng lực quản trị và tiếp thị hạn chế, dễ bị áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp lớn, thương mại điện tử và hàng hóa nhập khẩu. Đồng thời, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ môi trường ngày càng cao, đặt ra thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ lẻ chưa được trang bị công nghệ và kỹ năng đáp ứng.
Thứ ba, khoảng cách số và năng lực lao động là rào cản quan trọng. Mặc dù, chuyển đổi số mở ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn, nhưng hạ tầng viễn thông chưa đồng bộ và kỹ năng số của người lao động địa phương còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả áp dụng công nghệ trong quản trị, sản xuất và marketing chưa cao.
Thứ tư, rủi ro chuỗi cung ứng và chi phí logistics tại vùng núi vẫn lớn do địa hình phức tạp, thiếu hạ tầng đồng bộ và kết nối thị trường chưa hoàn thiện. Điều này không chỉ làm tăng chi phí vận hành mà còn hạn chế khả năng mở rộng quy mô và liên kết chuỗi giá trị của khu vực tư nhân.
Thứ năm, thách thức về thể chế và chính sách vẫn tồn tại. Thủ tục hành chính, khó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp xanh và liên kết chuỗi giá trị hạn chế động lực đầu tư của khu vực tư nhân.
Nhận diện và giải quyết đồng bộ các thách thức này là điều kiện tiên quyết để KTTN thực sự trở thành động lực phát triển bền vững cho vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay.
3. Thảo luận
Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay, cần triển khai các giải pháp đồng bộ, kết hợp thể chế, hạ tầng, nguồn lực con người và đổi mới sáng tạo.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách đặc thù là yêu cầu nền tảng. Nhà nước cần xây dựng các cơ chế ưu đãi đầu tư, hỗ trợ tiếp cận đất đai, tín dụng, thủ tục hành chính và chính sách thuế linh hoạt, đồng thời phát triển khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu, nâng cao minh bạch và tạo môi trường cạnh tranh công bằng.
Thứ hai, tăng cường tiếp cận vốn và phát triển hạ tầng là điều kiện then chốt. Các chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi, quỹ đầu tư phát triển vùng, cùng với đầu tư hạ tầng giao thông, viễn thông, năng lượng và logistics sẽ giúp khu vực tư nhân giảm chi phí vận hành, kết nối thị trường hiệu quả, từ đó mở rộng quy mô sản xuất và phát triển chuỗi giá trị.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị doanh nghiệp thông qua đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng kinh doanh, chuyển đổi số và khởi nghiệp. Tăng cường năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ và khai thác tri thức địa phương sẽ giúp khu vực tư nhân thích ứng với biến đổi thị trường và yêu cầu phát triển bền vững.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và mô hình hợp tác công - tư (PPP). Việc xây dựng mạng lưới hợp tác giữa doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, cộng đồng và cơ quan nhà nước sẽ tạo điều kiện khai thác hiệu quả nguồn lực địa phương, nâng cao giá trị sản phẩm đặc thù, đồng thời bảo vệ môi trường và phát huy giá trị văn hóa địa phương.
Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn. Khu vực tư nhân cần tích hợp công nghệ số trong quản lý, sản xuất và tiếp thị, đồng thời triển khai các mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn, kết hợp với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhằm hướng tới phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
4. Kết luận
KTTN đã và đang khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khai thác hiệu quả tiềm năng địa phương. Sự tham gia chủ động của khu vực tư nhân trong nông - lâm nghiệp, du lịch cộng đồng, thủ công mỹ nghệ và dịch vụ thương mại không chỉ giúp gia tăng giá trị sản phẩm mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng chuyển đổi số và bảo tồn văn hóa địa phương. Tuy nhiên, để phát huy tối đa vai trò này, cần khắc phục các hạn chế về thể chế, hạ tầng, năng lực quản trị và nguồn nhân lực, đồng thời tăng cường liên kết chuỗi giá trị, cơ chế hỗ trợ vốn và phát triển mô hình kinh tế bền vững. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và cộng đồng là tiền đề để đảm bảo KTTN trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy phát triển toàn diện, bền vững và hội nhập cho vùng đồng bào DTTS&MN hiện nay.
* Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam.
** Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Duy Dũng (2021), Phát triển kinh tế nông thôn mới ở Việt Nam gắn với bảo vệ môi trường, Hà Nội: Nxb. Xây dựng.
2. Nguyễn Văn Thịnh (2021), Kinh tế tư nhân và phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số, Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.
3. Nguyên Ngọc (2020), Phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/820515/phat-trien-kinh-te---xa-hoi-ben-vung-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so.aspx
4. Minh Dực (2025), Phát triển kinh tế tư nhân: Triển vọng lớn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, https://vietnamnet.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-trien-vong-lon-o-vung-dong-bao-thieu-so-va-ton-giao-2440370.html
5. Bùi Thị Hồng Thuý (2025), Phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/05/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc/