Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ chính sách đến thực tiễn triển khai

TS. Lý Thị Thu* - Phương Liên - 15:08, 04/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ và công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Bài viết phân tích quan điểm nhất quán của Đảng về vấn đề này; Đánh giá kết quả đạt được thời gian qua; Chỉ ra những hạn chế, bất cập từ thực tiễn. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong giai đoạn tới, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Từ khóa: Cán bộ người dân tộc thiểu số; Công tác dân tộc; Chính sách dân tộc; Phát triển nguồn nhân lực.

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

1. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc trong sự thống nhất, với 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Đa số các DTTS sinh sống ở vùng miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Do vậy, Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ cán bộ người DTTS trong sự nghiệp cách mạng. Từ năm 1947, Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương (ngày 3/4 đến 6/4) đã yêu cầu: “Đặc biệt chú ý đào tạo cán bộ DTTS và nâng đỡ các cán bộ ấy, đưa họ vào các cơ quan chỉ đạo địa phương”[8].

Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương qua các giai đoạn cách mạng khác nhau. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc nhấn mạnh: “Quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS”, với giải pháp: “Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc”.

Tại Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới đã nêu: Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ; Song cũng nêu rõ so với sự phát triển chung của cả nước và từng địa phương, đời sống của đồng bào DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội phát triển chậm; Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; Khoảng cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng. Hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chậm được khắc phục; Còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội…

Phân tích về nguyên nhân của những tồn tại trên, Bộ Chính trị khẳng định một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền “Chưa quan tâm đúng mức đến công tác tạo nguồn quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ người DTTS” và yêu cầu: “Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS”.

Từ Đại hội XI (năm 2011) đến Đại hội XIII (năm 2021), phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội luôn là một trong ba đột phá chiến lược của Đảng. Các văn kiện đại hội đều yêu cầu chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, nhất là cán bộ nữ, cán bộ trẻ người DTTS.

Bên cạnh các nghị quyết, chỉ thị, kết luận chung, Bộ Chính trị còn ban hành các nghị quyết chuyên đề liên quan đến từng vùng, nhất là vùng có đông đồng bào DTTS. Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định nhiệm vụ, giải pháp: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trong đồng bào DTTS, coi đây là một trong những khâu đột phá cho phát triển nhanh và bền vững của vùng”. Tương tự, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 06/10/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nhất là nhân lực đồng bào DTTS tại chỗ, coi đây là một trong những khâu đột phá cho sự phát triển nhanh và bền vững của vùng”.

Quan điểm của Đảng được Nhà nước cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách và pháp luật. Điều 11 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc quy định: (1) Cán bộ người DTTS có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp. Ở các địa phương vùng DTTS, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người DTTS. (2) Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người DTTS, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. (3) Các bộ, nghình, địa phương có trách nhiệm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS.

Trong đó, đặc biệt là Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong thời kỳ mới lần đầu tiên đặt ra các mục tiêu định lượng về tỷ lệ cán bộ người DTTS trong các cơ quan nhà nước và xác định các nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 4 nhóm đối tượng (Lãnh đạo cấp tỉnh và tương đương; Lãnh đạo cấp Sở và tương đương; Lãnh đạo cấp phòng và tương đương; Cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo). Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 26/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2018-2025” đã giao Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) chủ trì xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng, thể hiện sự chuyển dịch từ đào tạo chung sang trang bị các kiến thức, kỹ năng đặc thù cho đội ngũ cán bộ người DTTS.

Giai đoạn 2021-2025 đánh dấu bước ngoặt về tư duy chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS với việc trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021-2030 đã dành Dự án 5: “Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” để thực hiện nhiệm vụ này. Dự án bao quát toàn diện các khâu: Từ củng cố hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú (Tiểu dự án 1); Bồi dưỡng kiến thức dân tộc và đào tạo trình độ cao (Tiểu dự án 2); Phát triển giáo dục nghề nghiệp (Tiểu dự án 3); Đến nâng cao năng lực cho chính đội ngũ cán bộ triển khai chương trình ở các cấp (Tiểu dự án 4). Cách tiếp cận này đã gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực người DTTS với các mục tiêu phát triển KT-XH chung của toàn vùng. Gần đây, ngày 24/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, công chức, tại Điều 3, Khoản 7 nêu nguyên tắc:“Ưu tiên trong tuyển dụng, bổ nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với người DTTS.”

2. Kết quả thực hiện

Giai đoạn 2021-2024, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) là người DTTS trong các cơ quan, đơn vị từng bước được nâng lên. Tổng số CBCCVC người DTTS là 267.229 người, trong đó, có 7.841 người ở trung ương và 259.388 người ở địa phương. So với quy định tại Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ thì số lượng CBCCVC người DTTS cấp tỉnh ở hầu hết các địa phương đều đạt tỷ lệ quy định trên tổng biên chế được giao. Một số tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn (cũ), Hà Giang (cũ), tỷ lệ CBCCVC người DTTS từ 60-80%. Nhiều địa phương có cán bộ người DTTS đảm nhiệm các chức vụ chủ chốt như bí thư, chủ tịch xã cho thấy công tác tạo nguồn và bố trí, sử dụng cán bộ người DTTS đã có bước tiến rõ rệt.

Năm 2025, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và bỏ cấp huyện, chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã dẫn đến sự chuyển dịch, phân bổ lại đội ngũ công chức, viên chức, người lao động ở khu vực công theo hướng tích cực. Một lực lượng lao động không nhỏ ở cấp tỉnh, cấp huyện trước đây được bổ sung, tăng cường cho cấp xã, góp phần chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ công chức người DTTS cấp xã.

Công tác tạo nguồn và đào tạo, bồi dưỡng, các chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ, ưu tiên tuyển sinh đối với học sinh, sinh viên người DTTS đã góp phần quan trọng hình thành nguồn cán bộ trẻ. Chính sách cử tuyển trong nhiều năm qua đã đào tạo hàng chục nghìn cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng cho các vùng khó khăn. Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ người DTTS có sự chuyển biến rõ rệt. Nhiều cán bộ người DTTS được đào tạo bài bản về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, từng bước đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số. Các trường chính trị, học viện, cơ sở đào tạo của Nhà nước đã dành những chương trình, chỉ tiêu nhất định cho đối tượng là người DTTS, tạo điều kiện nâng cao trình độ tổng thể của đội ngũ này.

Giai đoạn 2021-2025, Tiểu dự án 2: Bồi dưỡng kiến thức dân tộc; Đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho vùng đồng bào DTTS&MN trong Dự án 5 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 56.256 học viên; 7.160 học viên được bồi dưỡng tiếng DTTS; 843 sinh viên được hỗ trợ học đại học; 315 học viên được hỗ trợ đào tạo thạc sỹ; 18 nghiên cứu sinh được hỗ trợ đào tạo tiến sỹ. Dự án 10 đã tổ chức 115 lớp tập huấn nâng cao năng lực giám sát, đánh giá chương trình cho 9.360 lượt cán bộ. Những con số này cho thấy sự đầu tư lớn và nỗ lực của cả hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ người DTTS.

Tuy nhiên, nhân lực DTTS trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đang còn hạn chế về chất lượng. Tỷ lệ đội ngũ CBCCVC người DTTS có trình độ đại học và trên đại học, trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý, ngoại ngữ và công nghệ thông tin còn thấp, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã. Tuyển dụng, đào tạo, bố trí nhân lực DTTS chưa đồng đều giữa các vùng miền. Nhiều tỉnh có tỷ lệ cán bộ người DTTS thấp hơn quy định của Quyết định số 402/QĐ-TTg và chưa tương xứng với tỷ lệ dân số DTTS. Tỷ lệ CBCCVC người DTTS giữ chức danh lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan trung ương và địa phương có sự chênh lệch lớn. Ở nhiều địa phương, số lượng CBCCVC DTTS giữ chức vụ lãnh đạo không đạt tỷ lệ theo quy định, phân bố không hợp lý giữa các cấp, chưa bảo đảm cân đối, hài hòa giữa các DTTS trên địa bàn có tỷ lệ DTTS cao từ 70% trở lên. Chẳng hạn tại tỉnh Lai Châu, dân tộc Thái chiếm trên 30%, dân tộc Mông chiếm 24% dân số, nhưng công chức cấp tỉnh là người dân tộc Thái chỉ chiếm 10%, dân tộc Mông chiếm 3,2%. Những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, do hạn chế về nguồn lực, các chính sách sử dụng, thu hút nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một số địa phương trong kế hoạch tuyển dụng hằng năm không xác định số lượng vị trí việc làm cần tuyển đối với người DTTS, không xác định rõ chỉ tiêu, cơ cấu dân tộc cần tuyển, dẫn đến tình trạng không bảo đảm tỷ lệ CBCCVC trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập…

Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ người DTTS còn hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý, ngoại ngữ, tin học trong khi yêu cầu công việc ngày càng cao. Công tác tạo nguồn ở một số địa phương còn mang tính hình thức, thiếu chiến lược dài hạn; Gắn kết giữa đào tạo và sử dụng chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng có cán bộ được đào tạo nhưng bố trí công việc chưa phù hợp, thậm chí không được sử dụng đúng chuyên môn. Cơ chế đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến đối với cán bộ người DTTS ở nhiều nơi còn hạn chế, ảnh hưởng đến động lực cống hiến và khả năng giữ chân cán bộ trẻ, có năng lực… Những hạn chế này cho thấy khoảng cách nhất định giữa chủ trương, chính sách và thực tiễn triển khai, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, căn cơ hơn trong thời gian tới.

3. Đề xuất một số giải pháp

Để nâng cao hiệu quả tạo nguồn và sử dụng cán bộ người DTTS, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ người DTTS trong điều kiện mới. Các cấp ủy, chính quyền cần nhận thức rõ xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS là yêu cầu khách quan trong quản trị quốc gia. Quan điểm này cần được thể chế rõ hơn trong các chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ công tác tạo nguồn theo hướng chủ động, dài hạn và gắn với nhu cầu thực tiễn. Phát hiện, bồi dưỡng cán bộ trẻ người DTTS cần được tiến hành từ sớm, từ cơ sở, gắn với quy hoạch cán bộ. Các chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ cần được rà soát, điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng đầu vào, đồng thời bảo đảm đầu ra, gắn với bố trí, sử dụng cụ thể, tránh lãng phí nguồn lực đào tạo.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cho cán bộ người DTTS. Bên cạnh kiến thức chuyên môn và lý luận chính trị, cần chú trọng trang bị kỹ năng quản lý, kỹ năng làm việc với cộng đồng, kỹ năng số và năng lực thích ứng với yêu cầu cải cách hành chính. Chương trình bồi dưỡng cần phù hợp với đặc thù vùng miền và điều kiện công tác của cán bộ người DTTS.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế sử dụng, đánh giá và đãi ngộ cán bộ người DTTS. Việc bố trí, sử dụng cán bộ cần dựa trên năng lực, sở trường và yêu cầu công việc, đồng thời bảo đảm tỷ lệ hợp lý cán bộ người DTTS ở những địa bàn cần thiết. Cơ chế đánh giá phải công bằng, minh bạch, tránh cả hai khuynh hướng: nể nang hình thức hoặc “ưu tiên cứng nhắc”. Có chính sách đãi ngộ phù hợp về điều kiện làm việc, nhà ở, thu nhập, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa nhằm tạo động lực cho cán bộ yên tâm công tác lâu dài.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn. Việc thực hiện chính sách cán bộ người DTTS cần được theo dõi, đánh giá thường xuyên, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh. Chú trọng tổng kết các mô hình, kinh nghiệm hay ở địa phương, từ đó nhân rộng những cách làm hiệu quả.

4. Kết luận

Trong bối cảnh mới, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững vùng đồng bào DTTS&MN ngày càng đặt ra cao hơn thì xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, hợp lý về cơ cấu càng trở nên cấp thiết. Việc này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và tổ chức thực hiện hiệu quả, giữa tầm nhìn chiến lược và giải pháp cụ thể, thiết thực. Chỉ khi đó, cán bộ người DTTS mới thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các DTTS, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

* Học viện Chiến lược và Bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng)

Tài liệu tham khảo

1. Chính phủ (2011). Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022). Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06/10/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

7. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 402/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

8. Ủy ban Dân tộc (2013). Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 34.

9. Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (2025). Việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.