Với đồng bào Cơ Tu sinh sống dọc dãy Trường Sơn, cây sắn không chỉ cho củ. Lá sắn - thứ tưởng như bỏ đi lại gắn bó sâu sắc với đời sống thường nhật và cả đời sống văn hóa, tâm linh của họ. Từ bao đời nay, lá sắn đã trở thành nguyên liệu quen thuộc trong gian bếp vùng cao: xào với tỏi, thịt heo, thịt bò, thịt nai; hay muối chua để nấu những món canh lạ miệng đãi khách mỗi độ Tết đến xuân về
Người dân bẻ phần ngọn non của cây sắn về phơi héo để muối chuaTrong những ngày hội làng, lễ cúng Yàng, hay tại các hội thi ẩm thực truyền thống vùng cao, không khó để bắt gặp những mâm cơm có món lá sắn xắt sợi, xào chín xanh mướt. Đó không chỉ là món ăn, mà còn là ký ức, là sự tiếp nối của một nền ẩm thực địa phương mộc mạc mà bền bỉ.
Bà Alăng Thị Nhá - vợ ông Bớt, người phụ nữ Cơ Tu có đôi bàn tay thoăn thoắt và nụ cười hiền như nắng núi kể rằng: lá sắn dùng làm thức ăn phải là lá non hoặc lá bánh tẻ, hái ở những ngọn mập mạp, xanh tươi. Tuyệt đối không dùng lá già để tránh độc. Người Cơ Tu quen gọi đó là lá sắn “ăn tươi”.
Muốn món ăn ngon, giữ được màu xanh và vị bùi béo đặc trưng, người nấu phải có kinh nghiệm từ khâu chọn lá đến sơ chế. Lá được rửa sạch, vò nhẹ, xử lý đúng cách để khi nấu không đắng, không nát mà vẫn dậy mùi núi rừng.
Vào những mùa thu hoạch sắn rẫy, khi lá sắn nhiều đến mức ăn không hết, bà con lại tận dụng để muối chua, gọi là dưa lá sắn. Món dưa ấy theo tiếng Cơ Tu có những cái tên mộc mạc, gắn với đời sống bản làng, như chính cách họ gìn giữ món ăn này qua bao thế hệ.
Bà Nhá kể, bà hái cả ngọn lẫn lá non, chọn những lá vừa tầm, không quá già. Lá đem rửa sạch, để ráo, rồi phơi nắng cho héo sơ. Sau đó, bà nhồi lá vào ché, đổ nước đun sôi để nguội đã hòa muối vừa phải, dùng phên tre nén chặt rồi đậy kín nắp.
Dưa sắn muối chua sẽ được dùng làm nguyên liệu nấu canh cá suốiChỉ cần ba đến bốn ngày nắng đẹp, ché dưa đã chuyển sang màu vàng tươi, tỏa mùi thơm chua dịu rất đặc trưng. Khi ấy, dưa lá sắn nấu món gì cũng ngon, nhưng ngon nhất vẫn là nấu cùng cá suối, cá đồng, những sản vật sẵn có của núi rừng.
Hôm ấy, bữa cơm ngày xuân của gia đình ông Bớt có món canh chua dưa lá sắn nấu cá suối do chính tay bà Nhá chế biến. Cá do các con của ông bà bắt từ khe suối gần nhà, còn tươi rói. Cá được làm sạch, bỏ ruột, rửa kỹ, để ráo rồi ướp cùng chút bột canh, tiêu rừng và ớt xanh giã dập để thấm vị núi rừng.
Bát canh cá suối nấu dưa sắn thơm ngon, hấp dẫnBà bắc bếp, phi củ nén cho thơm rồi cho cá vào đảo nhanh tay để cá săn chắc, không nát. Dưa lá sắn lấy từ ché ra, cắt khúc, rửa nhẹ cho bớt mặn. Một nồi khác, bà xào dưa với dầu ăn, nêm nếm gia vị vừa phải, cho nước xâm xấp rồi đun sôi. Khi nồi canh sôi nhẹ, cá được cho vào nấu chung. Chỉ khoảng mười phút, dưa mềm, cá ngọt, mùi thơm lan tỏa khắp gian bếp gỗ. Trước khi tắt bếp, bà thả thêm vài lát ớt để bát canh có vị cay nhẹ, ấm nồng đúng chất ngày xuân miền núi.
Giữa tiết trời xuân se lạnh của Trường Sơn, bát canh dưa lá sắn nóng hổi ăn cùng cơm gạo lúa rẫy mới thật sự trọn vị. Miếng dưa dai dai, nhai kỹ thấy bùi béo; vị chua thanh mát quyện cùng vị ngọt của cá suối, tạo nên hương vị vừa lạ vừa quen, mộc mạc mà sâu lắng. Đó là món ăn không cầu kỳ, không phô trương, nhưng thấm đẫm tình người. Một bát canh gói trọn cả núi rừng, cả ký ức gian khó và sự chắt chiu của bao thế hệ người Cơ Tu trên dãy Trường Sơn.
Đĩa lá sắn xào dành để cúng Yàng với hương vị đặc trưng.Ngày nay, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng nỗ lực vươn lên của chính đồng bào, đời sống vật chất và tinh thần của người Cơ Tu ở miền Tây TP. Đà Nẵng đã đổi thay rõ rệt. Những tháng ngày thiếu ăn, thiếu mặc dần lùi xa, những ché dưa lá sắn từng là cứu cánh trong lúc khó khăn cũng không còn xuất hiện thường xuyên như trước. Thế nhưng, trong nhiều gia đình, dưa lá sắn vẫn được nấu vào những dịp đặc biệt, như một cách nhắc nhớ về quá khứ, về những năm tháng chiến tranh, đói cơm nhạt muối nhưng nghĩa tình không bao giờ cạn.
Hôm nay, dưa lá sắn từ món ăn của nhà nghèo vùng cao đã trở thành một đặc sản hiếm, níu chân du khách trong hành trình khám phá hương vị Trường Sơn. Mỗi bát canh ngày xuân không chỉ là món ăn, mà còn là câu chuyện về con người, về núi rừng, về một vùng đất biết chắt chiu từ gian khó để giữ lại cho đời sau những giá trị bền lâu./.